Bài Viết Xã hội

Little Saigon: Động Lực Chuyển Mình của Westminster và Garden Grove

Người Việt Trẻ

Garden Grove và Westminster: Những Cố Gắng Bất Thành

Trước thập niên 1970, Garden Grove và cả Westminster được xem là những thành phố đang đi vào “cõi chết.” Vốn là những thành phố nông nghiệp, lại nằm ở những vị trí trung gian của những thành phố và quận hạt lớn, như Quận Cam, Quận Los Angeles... hai thành phố chưa bao giờ có đủ hấp lực để người dân đổ vào đây sinh sống. Về phía cư dân địa phương, sau một thời gian làm việc và về hưu, người lớn tuổi thường dọn đi nơi khác sinh sống. Giới thanh niên, sau khi học thành tài, thường đi nơi khác tìm kiếm việc làm hoặc lập gia đình.


Vào thời điểm 1970, những gì người ta nhìn thấy nơi hai thành phố này là những cánh đồng dâu tây, những khu đất bỏ hoang, và cả những căn nhà được xây dựng tạm bợ từ sau Thế Chiến Thứ Hai.


Bên cạnh những cố gắng lớn lao của chính quyền địa phương vào thời gian ấy, như xây dựng các khu shopping mall, xây dựng những bãi đậu xe rộng rãi và tiện dụng, cũng như cho làm cả con đường freeway 22 đi ngang qua hai thành phố... cả Garden Grove và Westminster đều bế tắc trong những cố gắng tạo sự thịnh vượng. Một trong những yếu tố chính yếu góp phần vào sự suy yếu của hai thành phố này là vì các đô thị lớn nằm quá gần chúng. Những đô thị này, như Quận Cam, Quận Los Angles hay Long Beach, đã “lôi kéo” tất cả dân cư, du khách và khách vãng lai. Người ta chỉ dùng freeway 22, vốn được đặt tên là Xa Lộ Garden Grove để “đi nhờ.” Chính freeway 22 cũng là “thủ phạm” chia đôi ranh giới của hai thành phố Garden Grove và Westminster. Do sự thiếu vắng các cơ sở công nghiệp cũng như sự ra đời và công nghiệp hóa nhanh chóng của các quận hạt láng giềng, nguồn thu nhập từ thuế của hai thành phố này ngày càng sụt giảm đáng kể. Mặt cho những cố gắng của chính quyền địa phương và cả chính quyền tiểu bang, Garden Grove bị xem là thiếu sức sống và bị gọi tên một cách mỉa mai là “Garbage Grove.”


Thành phố Westminster cũng không hơn gì Garden Grove. Vào thời ấy, Bolsa Ave. chỉ là con số không. Cả thành phố không có lấy một “dealer” bán xe hơi đời mới, chỉ toàn xe hơi cũ, tiệm sửa xe và một vài cửa tiệm nằm lẻ loi đây đó. Có lẽ, sự khởi sắc đầu tiên đến với Westminster là do Westminster Mall, được xây dựng vào năm 1974. Westminster Mall thời bấy giờ có 190 cửa tiệm với tổng thu nhập lên đến nửa tỉ đô la trong hai năm đi vào hoạt động.


Những cố gắng không thành công trong một thời gian dài đã đẩy chính quyền địa phương vào chỗ bế tắc. Và sự bế tắc bắt đầu được khai thông, ngoài sự tiên liệu của tất cả mọi người, vào năm 1975, hay nói chính xác hơn, vào đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975.


Hàng trăm ngàn người Việt Nam đổ dồn vào Hoa Kỳ sau ngày Miền Nam Việt Nam sụp đổ đã biến đổi bộ mặt đang đi vào “cõi chết” của hai thành phố Garden Grove và Westminster.


Sự Định Cư Của Người Tị Nạn Việt Nam:


Làn sóng tị nạn đầu tiên đến Hoa Kỳ vào năm 1975. Khoảng 130,000 người Việt Nam được đưa vào 4 trại tạm cư trên đất nước Hoa Kỳ, đó là Camp Pendleton (California), Fort Chaffee (Arkansas), Eglin Air Force Base (Florida) và Fort Indiantown Gap (Pennsylvania). Làn sóng tị nạn này đa số thuộc về giới trí thức, quân nhân. Đa số có thể nói tiếng Anh hoặc tiếng Pháp và có nhiều kinh nghiệm làm việc với người Tây Phương. Trước làn sóng tị nạn ồ ạt của người Việt Nam, Quốc Hội Hoa Kỳ đã gấp rút ban hành hai bộ luật “Trợ Giúp Tị Nạn và Di Trú” (1975) và “Bộ Luật Tị Nạn” (1980). Hai bộ luật này cho phép gia tăng số lượng người tị nạn vào định cư tại Hoa Kỳ.


Làn sóng tị nạn thứ hai bắt đầu vào năm 1977. Đa số người tị nạn trong giai đoạn này là người Việt gốc Hoa. Khoảng 21,000 người Việt Nam đến Hoa Kỳ vào năm 1977. Riêng năm 1979, có khoảng 106,500 người tị nạn Việt Nam đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Làn sóng tị nạn tiếp tục dâng cao trong thập niên 80. Đến năm 1985, có 643,200 người Việt Nam được định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị nạn. Riêng trong làn sóng tị nạn thứ hai, có đến 50% là người Việt gốc Hoa.


Tại các trạm tiếp nhận, người tị nạn được yêu cầu ghi danh với một trong chín cơ quan bảo trợ thiện nguyện (viết tắc là VOLAGS). Mỗi người tị nạn sẽ nhận được một sự giúp đỡ “tương đương $500”. Các gia đình tị nạn, để được phép rời khỏi các trại tạm cư, cần tìm được sự bảo trợ từ các đoàn thể tôn giáo, doanh nghiệp hoặc cá nhân. Lý do chính yếu khiến chính phủ liên bang không cho phép người tị nạn rời trại tạm cư mà không có người bảo trợ là vì chính phủ không muốn ngân sách thuế bị ảnh hưởng. Chế độ bảo trợ nhằm chuyển “gánh nặng tị nạn” sang thành phần tư nhân. Theo tạp chí Amerasia Journal, chính sách của chính phủ liên bang thời ấy là phân tán người tị nạn đi khắp nơi trên nước Hoa Kỳ (hơn là để họ tụm lại một chỗ.) Sự quần tụ của người tị nạn sẽ đặt ra nhiều áp lực lên địa phương mà họ quyết định lưu trú, mà điều này, theo tạp chí Amerasia Journal, sẽ “làm giảm tiến trình hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ của chính những người tị nạn.”


Những chính sách phân tán của chính phủ liên bang thời bấy giờ ảnh hưởng mạnh mẽ lên làn sóng tị nạn thứ nhất 1975 – 1977. Tuy nhiên, làn sóng tị nạn thứ hai đã không chịu ảnh hưởng của chính sách phân tán. Người tị nạn bắt đầu sống quần tụ những nơi có người Việt Nam. California là chọn lựa số một vào thời điểm ấy, vì hơn 20% người Việt Nam thuộc làn sóng thứ nhất đã chọn định cư tại California, vì sự tương đồng về mặt khí hậu cũng như mức độ thất nghiệp rất thấp vào thời gian ấy tại Quận Cam (4.3% vào giai đoạn cuối thập niên 1970.)


California, đặc biệt là Quận Cam, đã mau chóng gia tăng số lượng người Việt Nam ngay trong giai đoạn đầu tiên. Trại Pendleton, các trạm tiếp cư và các cá nhân, đoàn thể bảo trợ đã góp phần giữ người Việt Nam lại California. Trong bối cảnh này, Garden Grove, Westminster và Santa Ana đã trở thành 3 thành phố tiếp nhận người Việt Nam đông và nhanh nhất Hoa Kỳ.


Chỉ một thời gian ngắn sau khi định cư, người ta bắt đầu nhìn thấy những nhà hàng, văn phòng bác sĩ, nha sĩ, tiệm bán thực phẩm ăn nhanh... bắt đầu xuất hiện trên Đại Lộ Bolsa.


Little Saigon xuất phát từ những ngày đầu tiên này, và phát triển với tốc độ nhanh chóng trong chỉ vài năm sau đó.


Theo thống kê được phổ biến năm 1980, có khoảng 15,000 người Việt Nam sống tại Hoa Kỳ vào thời điểm trước 1975. Hầu hết những người này là sinh viên du học hoặc những phụ nữ Việt Nam đến Hoa Kỳ theo diện hôn phối với quân nhân Hoa Kỳ. Những ghi nhận trên đây chứng tỏ rằng khi những làn sóng người tị nạn Việt Nam đến Hoa Kỳ, chưa hề có một cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ. Những cộng đồng như thế này chỉ bắt đầu từ sau 1975, khi người Việt Nam bước ra khỏi các trại tị nạn và có các quyết định di cư độc lập. Dưới ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, kinh tế và chính trị, cộng đồng Việt Nam mới dần dần thành hình.


Sự thành hình cộng đồng, theo ngành xã hội học, không chỉ được giải thích bởi những điều kiện và cấu trúc xã hội mà người tị nạn đã phải đối mặt khi bắt đầu đến với đất nước mới. Cá tính, tập quán, văn hóa và quá trình hội nhập cũng đóng vai trò quyết định trong quá trình thành hình cộng đồng. Đối với người Việt Nam, do có nhiều làn sóng tị nạn khác nhau, bao gồm những thành phần xã hội khác nhau, ra đi dưới những ảnh hưởng khác nhau, sự thành hình các cộng đồng mang nhiều yếu tố đặc biệt có một không hai trong lịch sử di dân và tị nạn Hoa Kỳ.


Các làn sóng tị nạn người Việt Nam có tính chất “tị nạn” giảm dần theo thời gian, và dần dần chuyển từ tị nạn “cấp tính” sang tị nạn “có chuẩn bị.” Những làn sóng sau cùng, dưới các chương trình ODP và PIP, người Việt Nam nhập cư vào Hoa Kỳ mang nhiều yếu tố di dân hơn tị nạn. Chính vì những thay đổi này, sự thành hình cộng đồng mang nhiều điểm khác biệt so với giai đoạn đầu, bao gồm những người tị nạn cấp tính.


Số Lần Chấm:  
9

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 2,817
Nguồn: www.nguoi-viet.com
Đăng bởi: Học Trò (12/26/2004)
Người gửi: