Bài Viết Văn Học

Đọc Thơ Giang Hữu Tuyên

Nguyễn Minh Diễm

Ai cũng có một lúc nào đó trong đời, điểm lại quá khứ, giật mình vì thời gian qua mau, tiếc cho những tháng ngày không trở lại, thương cho những mộng ước không thành, bâng khuâng trước tương lai bất trắc, hãi sợ trước cái vô tận của không gian và thời gian, cảm nhận cái hèn mọn của sức mình, tủi cho thân phận bọt bèo của kiếp nhân sinh và buồn.

Đó là những lúc con người có dịp đào thoát khỏi đời sống, nhìn ngắm chính mình thụ động theo cuộc sống đẩy đưa, trôi dạt theo dòng đời biến dịch khôn cùng. Dịp ấy có thể là một thất bại thảm thương, một thành công bỗng trở thành vô nghĩa, hay một sự hòa nhập bất ngờ với thiên nhiên vô tận, chẳng hạn như:

Hôm qua ngồi lại bên hồ
Buồn xưa cũng đã đủ no một đời

(Sao đêm còn lạ giọng cười)


Những lúc ấy, ta có thể mang mang hoài cảm, nhận ra rằng suốt bao năm, ta đã để đời cuốn đi như dòng sông đẩy nhánh lục bình trôi vào vô định:

Áo cơm lần lữa qua ngày tháng
Mộng ước lui dần xuống kẽ tay

(Đất gọi người đi)


Không biết có bao nhiêu người đã dồn nén và tích lũy được cảm xúc để chuyển chúng thành thơ trong những hoàn cảnh ấy? Chắc là nhiều, ít ra cũng phải bằng số người hóa giải chúng bằng nỗi u uất khôn nguôi hay để chúng bốc hơi theo men rượu cay nồng. Nhưng làm được những câu thơ hoài cảm (câu thơ, không nhất thiết phải là bài thơ hay tập thơ) khiến người đọc phải ngậm ngùi soi bóng mình trong đó thì chắc không nhiều. Giang Hữu Tuyên nằm trong số đó.

Cả tập thơ 50 bài của anh mênh mông những hoài cảm. Hình như bất cứ cảnh ngộ nào anh đã gặp, biến cố nào xuất hiện trong đời cũng là dịp để anh thương nhớ quá khứ. Có thể nói ngược lại chắc cũng đúng, là anh nhìn hiện tại và cả tương lai nữa bằng cặp mắt đậm màu dĩ vãng.

Tháng Hai ở miền Đông Hoa Kỳ trời vẫn lạnh nhưng Tuyên không thấy lạnh, chỉ thấy nắng vàng quê cũ:

Đêm ở đây thương ngày ở đó,
Gió nơi này tưởng gió hàng cau

(Dẫu vườn xưa có thành hoang phế)


Và anh miên man theo lối mòn kỷ niệm của một ngày tháng Hai nào đó trong quá khứ, khi giã từ quê cũ:

Chiều mưa dột Mẹ ngồi không nói
Con đốt đèn mắt thấy vương vương
Nén đau thương gắp chùm bông bí
Ăn đi con để kịp lên đường


Dẫu vườn xưa có thành hoang phế
Cũng xin về dựng lại quê hương

(Dẫu vườn xưa có thành hoang phế)


Cũng trong chuyến về dĩ vãng ấy, anh cho người đọc một hình ảnh thật đẹp:

Bữa đi bông cải nở vàng
Sông chia nhánh chảy, tóc ngàn dậm bay

(Mùa Xuân gửi ngọn bạc hà)


Và một nỗi ngậm ngùi:

Mới đây còn thuở ban đầu
Mà nay đã cuối một màu thiên thu

(Đã cuối)


Đẩy thêm một bước, thì ngậm ngùi trở thành ước mơ:

Trong buổi chiều thu lá úa kia
Có người xưa vạn lý quay về
Góp thêm chút nắng mùa Thu cũ
Hong lại vườn hoang thưở hẹn thề

(Trong buổi chiều kia)


Trong thân phận lưu lạc xứ người, Giang hữu Tuyên thường để cho lòng trôi về quê cũ, vùng đồng bằng Tiền Giang, Hậu Giang sông rạch chằng chịt và vườn ruộng chen nhau. Ở đó có Mẹ già, có mái tranh nghèo, có những bữa cơm đơn sơ và tất nhiên có người em gái ngây thơ - toàn cảnh giống như một bức tranh dân gian.

Trong 50 bài thơ của anh, tôi đếm được 45 lần chữ Mẹ, nhưng chỉ có 24 lần chữ Em, (liệu có thể coi là bất cân xứng chăng?) Bà Mẹ già thường xuất hiện như một hình tượng cảm xúc và anh thành công khi mô tả hình tượng này vì trong lời thơ có tình và có nhạc:

Rau dừa xanh ngọn dưới mương
Bếp chiều nồi mắm tỏa hương ngạt ngào
Con giờ lưu lạc phương nào
Đêm đêm chiếc bóng Mẹ rầu con ơi
Rạch kia đã cạn hết rồi
Không con ai vét đất bồi ấy lên

(Không con ai vét đất bồi ấy lên)



Buổi chiều gió thổi qua vườn mía
Mẹ đứng sau nhà mắt đỏ hoe
Gió đuổi chạy dài trên sóng lá
Dòng đời nặng nghiến cuối hàng tre

............................................

Vườn mía quê hương ngày trở lại
Hàng tre đứng ngóng đợi tin vui
Có ai trong ngã đường sông núi
Về quỳ dưới chân Mẹ, Mẹ ơi!

(Vườn Mía)


Trong đời sống bận rộn, tất bật trăm bề, không phải lúc nào cũng có thể lắng hồn nhìn vào quá khứ để mà hoài cảm. Phải có một môi trường tạo cảm, để làm cây cầu nối liền hiện tại với dĩ vãng, đó là những cơn mưa. Trong 50 bài thơ của Giang Hữu Tuyên, có 36 lần xuất hiện chữ Mưa và mỗi khi nói đến mưa, ta đều thấy không khí bài thơ như đầm xuống, như dịu lại, và ta có cảm tưởng như thấy Tuyên đúng là Tuyên hơn với những âm thanh êm ái, dịu dàng:

Lá vàng rụng hết đêm qua
Chiều xô cửa ngó ra mưa rất buồn
Mưa đằm ngọn cỏ đan sương
Mưa nghiêng kỷ niệm, mưa luồn tóc bay

(Mưa Arlington, nhớ mưa quê nhà)

Nhưng nỗi hoài cảm có lẽ hiện rõ nét nhất trong bài thơ "Trời mưa đi phát báo"mà tôi đoán là anh mới viết đây thôi:

Chiều ngã năm đường năm bảy ngã
Ngã nào cũng ướt giọt mưa rơi
Bao mùa mưa đã im giông bão
Sao nước trường giang vẫn khứ hồi

Mười mấy năm làm tên phát báo
Lòng buồn theo thành quách xa xưa
Những trang tin dội từ quá khứ
Rớt ngập ngừng cùng những hạt mưa

Mưa lót ngót, đời loi ngoi mãi
Sáng chưa đi chiều lại mưa về
Mưa ngã năm từ năm bảy ngã
Ngã nào cũng mưa và mưa thôi

Xếp báo trên tay vừa ướt hết
Vậy mà cứ đứng dưới mưa bay
Hình như những mùa mưa thưở trước
Đang về làm ướt trái tim ai

(Trời mưa đi phát báo)

Bài thơ không cầu kỳ. Ý đơn sơ, hình ảnh giản dị, nhưng một khi khung cảnh đã dựng, âm thanh đã rung, thì cảm xúc cứ từ lòng tác giả đi thẳng qua lòng người đọc như dòng "trường giang" làm "ướt" mọi "trái tim" đang từ hiện tại khổ đau, rưng rưng lần đường vào quá khứ.


Virginia, tháng 8 - 1999
NGUYỄN MINH DIỄM



Số Lần Chấm:  
4

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,693
Nguồn:
Đăng bởi: TVMT (8/29/2005)
Người gửi: ngocruby
Người sửa: TVMT;