Bài Viết  

Huyền Thoại Dược Thảo - Gia Vị Thường Dùng

Linh Bảo chuyển ngữ



Tiêu, hành, ớt, tỏi, chanh, đường.

Gừng, riềng, nghệ, sả, ngò om
hẹn chàng.

Nếu đưa bác mẹ sang thăm.

Tía tô, kinh giới nhớ cầm tay theo



Muốn ăn phở, chớ quên ngò gai.

Thìa Là chả cá cho hai đứa mình



Nhà có con chó xinh xinh.

Chớ mang húng quế, nó chạy quanh gầm bàn.



Con gà cục tác lá chanh

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi

” Con Chó khóc đứng khóc ngồi,

Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng





E còn thiếu nỗi niềm riêng,


đậu xanh, húng quế, dân nghiền phải mua." (langthang05)

 

Nghe ai nhắc đến cầy tơ

Mà không nhắc đến lá mơ cũng thèm  (Hoa-chanh)

 

 



1- Tiêu ( Piper  nigrum L.)





Cũng gọi là Hồ tiêu Vị cay, tính rất nóng, vào bốn kinh Tỳ, Phế, Đại Trường và Vị .

Có hai thứ  tiêu : Tiêu đen là thứ tiêu quả  chưa chín hẳn, phơi khô của cây hồ tiêu .Tiêu trắng , hay tiêu sọ, là quả chín, phơi khô, sát bỏ vỏ ngoài của hạt tiêu .Loại này có màu trắng ngà, ít nhăn nheo hơn, ít thơm hơn, nhưng cay hơn. Tiêu  là cay gắt,  cây có vị cay gắt, sản xuất tại nước Hồ . Do đó có tên Hồ tiêu  .

Tác dụng: Dùng ít,  kích thích tiêu hóa, làm cho ăn ngon cơm, hạ khí, tiêu đàm, chữa đau bụng đột ngột lạnh tay chân, nôn mửa, ói , tiết tả, trúng hàn đau vùng tim, suyển, đờm tắc, sát trùng, tiêu độc,  gây hắt hơi. diệt ký sinh trùng.  Mùi hồ tiêu đuổi các sâu bọ, do đó hồ tiêu dược dùng bảo vệ quần áo len, khỏi bị nhậy cắn .

Dùng nhiều quá,  kích thích  dạ dày, gây sung huyết và viêm cục bộ, gây sốt , viêm đường tiểu tiện, đi tiểu ra máu. Ngoài công dụng làm gia vị , hồ tiêu được dùng làm thuốc kích thích tiêu hóa, giảm đau răng, đau bụng .Cháo  tiêu hành :   Giải cảm, ấm dạ dày, tán hàn .Nấu cháo  với hành và  vài quả táo đỏ  . Cháo chín  cho tiêu  nêm nếm vừa miệng , ăn  lúc đói .

Hợp chữa bệnh trung tiêu hư hàn, đau dạ dày, đau bụng, nôn ra nước trong, tiêu chảy, ăn không tiêu …Kiêng kỵ : Người âm hư, và dạ dày thực nhiệt, kiêng dùng .

Bé Hạt Tiêu : Bé nhỏ mà …cay.











2. Hành  (Allium fistulosum L.)


 

“Con Lợn ủn ỉn mua Hành cho tôi “

Hành : Vị cay, hăng , nồng, tính bình, không độc, vào 3 kinh  Phế, Can và Thận . Dùng toàn cây, tươi hoặc khô .

Hành chữa cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, ho tức ngực , ăn không tiêu, thấp khớp, đau răng, mụn nhọt,  hoạt huyết,  sát trùng, kích thích thần kinh, giúp tiêu hóa, trợ ruột, thông hoạt tiểu tiện. Giải độc thức ăn, điều hòa hô hấp, giúp ra mồ hôi, an thần, sáng mắt, lợi ngũ tạng, trị tê thấp, trừ mụn nhọt .

Cách  thường dùng : Ăn sống như gia vị, luộc, nấu canh, ướp hay xào chung với thịt, cá, đánh bạt mùi tanh, chất  độc .

 Trị Cảm Mạo :

7 củ hành sống, 7 lát gừng tươi, dầy 3 ly, nấu một bát nước ,uống nóng cho ra mồ hôi .

 

Di tinh, hoạt  tinh :

Nấu canh hành ăn mỗi ngày 2 lần . Từ  3  đến 5 ngày .Sưng đầu gối:

 Hành sống giã nát, trộn với muối đắp chỗ sưng đau .Nghẹt mũi: Thở không thông, sắc hành uống .Táo bón: Sắc hành  uống .

Kiết lỵ, động thai ra máu. 

Ăn cháo nếp nấu với hành, hoặc nấu hành trộn với cháo .Thổ tả nguy cấp: Giã hành hoa với rượu uống, dùng hành hoa sao, chườm lên rốn .Sưng vú:  Giã hành sao nóng đắp chườm .Sâu, kiến bò vào  tai: Giã hành vắt lấy nước nhỏ vào tai .( sách Nam dược thần hiệu)

Cấm kỵ: Khi dùng hành , không nên ăn với mật, đường, thịt chó,  sẽ sinh bệnh .

Các món hành thường dùng: Dưa hành, canh răm hành,  hành trộn dầu dấm , hành băm trộn dầu để ăn với thịt gà luộc, trộn gỏi.  Hành xào thịt bò ( hay bất cứ thịt gì). Hành  tây độn tôm thịt . …..v. v . . .

Câu đối cổ  ngày Tết :Rượu nồng, dê béo, gái xuân xanh.Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ .Hoan nghênh góp ý .







3. ỚT  (Capsicum  annuum)







Muốn phân tích cây ớt cho rõ, thì cây, lá, trái và hột của nó, mỗi bộ phận  đều có công hiệu khác nhau. Ớt có nhiều thứ  nào là , ớt sừng trâu, ớt chỉ thiên, chỉ địa, ớt chùm, ơt thù lù, ớt hiềm .  Ớt hiểm lại có nhiều thứ : Ớt hiểm tây, ớt hiểm ta, ớt hiểm trắng, ớt hiểm rừng . . . Rễ ớt, cây ớt, lá ớt đều dùng làm thuốc được, chỉ có hột ớt là không tốt. 

Trái ớt vị cay, hăng,  nồng, tính nhiệt, hơi độc, vào Vị kinh .  Ớt  thông kinh lạc, giúp mạnh tì vị, trừ độc, tiêu độc, sát trùng, kích thích tiêu hóa, trừ phong thấp. Trái ớt  kích thích vị toan, nghĩa là làm cho chảy chất chua ở dạ dày, làm  tiêu hóa mau .  Cây ớt cũng vị cay nhưng tánh mát, không độc, nên công dụng của cây và  lá ớt lại điều hòa được gan, phồi và dạ dày,  hột ớt trái lại rất độc .

Ớt giúp tiêu đàm , trừ hàn lãnh, kích thích  thần kinh. Trị phong thấp, đau lưng, nhức mỏi, đau khớp, phong thấp, các bệnh ngoài da, lở ngứa, ban, chẩn.

Ớt ngâm dấm,  tươi hay khô đều có thể dùng làm gia vị, kích thích tiêu hóa, làm ăn ngon miệng, giúp chóng tiêu các chất, tanh, béo, lạnh. Lá nấu canh  trừ mụn mặt, mát gan.

Vỏ trái ớt có sinh tố C làm kích thích vị toan, nhưng ăn nhiều nó lại làm oải dạ dày, chậm tiêu .

Trị côn trùng cắn : Lá tươi giã nát đắp vào chỗ đau, hết nhức thì bỏ đi .

Rít cắn : Bẻ trái ớt, chà vào chỗ rít cắn,  tiêu được nọc đôc. Cây và rễ ớt, nấu uống trừ bệnh rét, trái ban, ho lâu ngày . Canh lá ớt trừ nhiệt, phong ngứa, trúng gió .

Lở ngứa : Lá ớt nấu canh ăn hay giã nát đắp vào chỗ ngứa .

Để dành : Cây, rễ,  lá,  nhổ rửa sạch, phơi khô, không sao rang gì cả. Dùng khi không có lá tươi .

Kỵ dùng : Hột ớt có độc. Nó có tánh nóng ác liệt..    Ăn nhiều có hại cho dạ dày  và có thể làm hư  hại ruột. Hột ớt gây phồng da .  Người nhiệt, máu nóng không nên dùng .

Ớt có quá nhiều giống và quá nhiều tên, nhưng tóm lại đều :

Ớt nào là ớt chẳng cay.

Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

Vôi nào là vôi chẳng nồng ,

Gái nào là gái có chồng không ghen. . . . (ca dao) . 

Thế mà cũng có người đòi   “Làm  sao cho  Ớt ngọt như đường .. .

 

Linh Bảo

 

TỎI

 

Theo y học cổ truyền, tỏi có vị cay, tính ôn, hơi độc, đi vào 2 kinh Can và V. Tỏi có tác dụng thanh nhiệt, giải độc (lấy độc trị độc), sát trùng, chữa băng đới, trùng tích, huyết lỵ, tẩy uế, thông khiếu, tiêu nhọt và hạch ở phổi, tiêu đờm, đầy chướng, đại tiểu tiện khó khăn, tả, lỵ v.v...

Ðông y cũng khuyên không dùng tỏi trong chứng âm hư, nội nhiệt, thai sản, đau mắt, mũi, răng, cổ họng, lưỡi...

Tỏi còn là vị thuốc chống ung thư hiệu nghiệm. Tỏi được thái mỏng thành từng lát để trong không khí khoảng 15 phút sẽ sinh ra chất "đại toán tố" là chất chống ung thư. Nếu tách tỏi thành nhánh nhai ăn ngay hoặc đem đun nóng lên thì không còn tác dụng gì nữa.

Khoa học ngày nay đã nghiên cứu: tỏi thuộc họ hành tỏi, bộ phận được dùng là củ để ăn và làm thuốc.

 

Thành phần hóa học và tác dụng:

Trong tỏi có ít Iode (sát trùng) và tinh dầu (100kg tỏi cho 60 đến 100g tinh dầu).

Chất kháng sinh trong tỏi là alicin (C6H10OS2). Ðó là một hợp chất sulfua diệt khuẩn rất mạnh đối với staphylococus (tụ cầu khuẩn), thương hàn, phó thương hàn, lỵ, tả, bạch hầu...

Alicin kết hợp với một axit amin có gốc SH thì sẽ cho xystein có tác dụng ức chế sự sinh sản của vi khuẩn.

Nước tỏi 5% ức chế hoạt động của amíp (loại ký sinh trùng thường gây bệnh kiết lỵ và gây áp - xe gan).

Pha chế và liều dùng:

Ăn tỏi bị hôi miệng.

Cách khắc phục: nhai một nhúm trà rồi nhổ đi sẽ hết hôi miệng.

Mùa hè đã đến, các bệnh viêm đường ruột như thương hàn, kiết lỵ... bà con bị mắc nhiều nhất là ở nông thôn, những vùng sâu vùng xa nên tỏi là một vị thuốc dễ tìm và dễ dùng có thể giúp bà con khỏi bệnh.







Bài Thuốc Rượu Tỏi

Vật liệu:

- 40 gram tỏi khô (mua 50 gram, sau khi bóc vỏ còn chừng 40 gram)

- 100 ml rượu trắng 45 độ (tốt nhất là rượu lúa mới)

Cách làm:

1. Thái tỏi thật nhỏ

2. Cho tỏi vào lọ đã rửa sạch

3. Cho rượu vào

4. Ngâm 10 ngày, thỉnh thoảng lắc chai để tỏi ngấm rượu cho đều

Quan sát:

Mới đầu rượu có màu trắng, sau chuyển dần sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thành màu nghệ.

Cách dùng:

Mỗi lần dùng 40 giọt (compte gouttes) vào buổi sáng trước khi ăn và buổi tối trước khi ngủ. Vì lượng ít nên chế thêm nước sôi để nguội vào thì mới uống thành một ngụm. Uống liên tục cả đời. Người phải kiêng rượu không uống được rượu vẫn có thể dùng được vì mỗi lần chỉ uống 40 giọt, một số lượng không đáng kể.

Bí quyết:

40 gram tỏi như thế, dùng trong 20 ngày thì hết, trong khi phải ngâm đến 10 ngày mới dùng được, cho nên cứ phải ngâm sẵn một lọ gối đầu để dùng liên tục

Rượu tỏi có thể chữa được 5 nhóm bệnh sau:

1. Thấp khớp (sưng, vôi hóa, mỏi)

2. Tim mạch (huyết áp thấp hoặc cao, nở van tim, ngoại tâm thu)

3. Phế quản, họng (viêm, hen, suyễn)

4. Tiêu hóa (khó tiêu, ợ chua, viêm tá tràng, loét bao tử)

5. Ngủ bất bình thường hay mất ngủ

Cấm kỵ:

 

Các chứng âm hư, nội nhiệt, thai sản, đậu chẩn, đau mắt, mũi , răng, cổ, lưỡi thì cấm dùng.




Số Lần Chấm:  
22

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 5,611
Nguồn: Nguồn : Tác Giả
Đăng bởi: Ngô Đồng (7/17/2010)
Người gửi: NganHa