Bài Viết  

BÀ MẸ QUÊ.

Philato

Đôi lời cùng những người tôi hằng quý mến nhân ngày lễ MẸ.

Trong thánh kinh Công Giáo có đoạn nói đại ý: “Người nam ở một mình thì không tốt, vì vậy Thiên Chúa đã tạo thêm người nữ để có mái ấm gia đình.”

Như vậy rõ ràng là nhờ có người nữ mà người nam mới trở nên người tốt hơn, nhờ
người nữ thì người nam mới có mái ấm gia đình. Người nữ ấy là Mẹ chúng ta, là mẹ của con chúng ta.

Người mẹ tình nguyện cho con tất cả, tất cả tinh thần lẫn thể xác mà không bao giờ nghĩ đến chuyện sẽ nhận lại bất cứ một thứ gì, dù chỉ một lời nói cám ơn. Đó là tình thương thiêng liêng vô cùng cao quý.

 Cha mẹ thương chúng ta, chúng ta thương con chúng ta, đó là nước mắt chẩy xuôi. Vậy thì có bao giờ nước mắt “chẩy ngược” không?  Ý tôi muốn nói là con cái có thương yêu lại cha mẹ không? Có chứ, chữ HIẾU đấy.

Nhưng tự đáy lòng, mỗi người chúng ta tự xét mình xem, nước mắt chẩy ngựơc thì có đấy, nhưng không thể, không bằng  nước mắt chẩy xuôi, chúng ta thương yêu cha mẹ, nhưng không bao giờ chúng ta thương yêu và
hy sinh cho cha mẹ bằng cho con cái chúng ta.

Cá nhân tôi là thế, có thương mẹ tôi bao nhiêu chăng nữa thì cũng chỉ là một bài viết “Bà Mẹ Quê”, khi NGƯỜI đã về quê thật.

Nhân ngày Lễ Mẹ, mời quý đọc giả nghe tôi kể...Nam độc giả nào đọc xong thì nên tặng MẸ và mẹ của các con một bó hồng, và một nụ hôn trên má ./.

            BÀ MẸ QUÊ:

Có nhiều cách gọi về song thân tùy theo địa phương, nhưng ở quê tôi, một vùng thuộc tỉnh Kiến An, Hải Phòng thì con gọi bố mẹ là thầy bu, vì thế tôi xin giữ hai danh từ này cho bài viết về mẹ tôi, một bà mẹ quê.

Thầy tôi qua đời ngày 15 tháng Giêng năm 1947, hưởng dương  bốn mươi mốt  tuổi. Ông cụ mất đi khoảng sau hai tháng bị bệnh mà thuở ấy người vùng quê chỉ biết gọi là bệnh “thương hàn.” Những ngày thầy tôi lâm trọng bệnh và khi các con tiễn chân ông cụ ra cánh đồng thì nay tôi không còn nhớ gì nữa. Kỷ niệm duy nhất còn sót lại trong đầu tôi, là khi ông cụ tháo vai cày ra khỏi cổ con trâu, rồi đưa sợi dây thừng cho tôi dẫn nó đi ăn, khi đến bên bờ hồ trước cửa nhà thờ, thì nó nhào xuống nước, ngước mũi lên thở phì phò.  Còn tôi, một thằng bé chăn trâu mới sáu tuổi, không thể kéo nó lên được nên tôi đành buông dây thừng, đứng trên bờ mà khóc vì sợ con trâu sẽ chết đuối.

            Nhưng với bu tôi, một bà mẹ quê, thì tôi nhớ nhiều, nhưng chưa một lần nhắc lại những kỷ niệm này với anh chị em và con cháu trong gia đình. Khi thầy tôi mất thì bu tôi mới bốn mươi ba tuổi với một nách bẩy đứa con, tất cả cùng sống trong căn nhà tranh vách đất, ba gian hai trái, một mảnh vườn với dăm ba sào ruộng thuộc làng Cựu Viên, tỉnh Kiến An, thành phố Hải Phòng.

Một hình ảnh tuy đã gần bảy mươi năm rồi mà tôi vẫn còn như đang thấy trước mắt, đó là cảnh vào lúc hoàng hôn, bu tôi đứng ở góc vườn, sau lũy tre, hướng ra nghĩa trang mà kêu tên thầy tôi trong tiếng nấc sau khi đã chôn cất thầy tôi xong.

Bu tôi cả ngày phải chân lấm tay bùn với ruộng lúa vườn rau, mỗi buổi chiều về, sau khi thổi cơm cho con, nấu cám cho lợn (heo) xong thì mặt trời đã lặn, giữa lúc tranh tối tranh sáng ấy, bà lẳng lặng ra góc vườn, lúc thì ngồi ngắt đọt khoai lang, khi thì đứng hái lá chè mà thút thít khóc trong khi các con không hay biết.

Một buổi chiều tối, khi chim đã về tổ, tôi leo lên cây cau góc vườn để bắt ổ chim sáo đen, tôi đã rình từ lâu khi nghe chim con kêu “chíp chíp,” tôi thất kinh suýt rơi xuống đất khi bất chợt thấy một bóng đen đứng khóc ở góc vườn. Tôi hoàn hồn ngay khi nhận ra tấm khăn tang trắng vấn trên đầu, hai đuôi khăn chạy dọc sống lưng của bu tôi, tôi vội tụt xuống định chạy vào nhà, nhưng rồi tôi khựng lại, ngồi thụp xuống bên gốc cây cau vì nghe tiếng bu tôi khóc:

- Ối ông ơi! Trời đã tối rồi, ông đi đâu mà sao không về ăn cơm uống nước với các con ông ơi!

Tuy tuổi lên sáu, tuổi nghịch ngợm của trẻ chăn trâu nhà quê không biết sợ ma nhưng tôi rùng mình nổi gai ốc khi nghe bu tôi kêu lên như thế. Bà khóc trong nấc nghẹn, cố kềm trong họng không cho ra tiếng vì sợ các con nghe được, bà cam chịu đau khổ thương nhớ một mình, không đành chia nỗi buồn với các con. Các anh chị em chúng tôi không ai hay biết việc này, vì sau một ngày quần quật với công việc ruộng lúa vồng khoai thì tất cả đã mệt nhoài, mọi người đi nghỉ sớm để sáng mai, khi gà vừa gáy và tiếng chuông nhà thờ “bính-boong” lúc năm giờ sáng là đã phải dậy để chuẩn bị ra đồng.

Riêng mình tôi biết bu tôi khóc, tôi chẳng nói cho ai hay, nhưng tiếng khóc xoáy vào đầu tuổi thơ khiến tôi cứ đứng sau hè nhìn bu tôi rũ xuống như tàu lá chuối héo, nghe bà nấc nghẹn mà ứa nước mắt theo. Nhiều khi tôi thấy bà vịn cành chè rồi sức nặng của khổ đau kéo cành chè gẫy xuống. Một chiều tối, tôi nghe tiếng nói bên kia vườn, cách bụi tre, vẳng sang:

- Mẹ Quán sao cứ khóc mãi thế! Hãy để cho Quán nó yên nghỉ.

Đó là tiếng của cụ Dưỡng, chú của thầy tôi, chắc cụ cũng xót ruột vì tiếng khóc mỗi chiều tối ngoài góc vườn. Bu tôi là cháu dâu nên phải vâng lời chú chồng, từ đó bu tôi không đứng khóc ngoài góc vườn nữa, nhưng nỗi sầu vì nấm mồ chôn chồng chưa xanh cỏ thì làm sao vơi, nên nước mắt tiếp tục rơi cùng những tiếng nấc nghẹn trong góc bếp giữa đêm khuya.

Mùa Đông tháng giá, tiết trời khá lạnh ở vùng quê miền Bắc trong căn nhà lá vách đất, cửa bằng phên tre, có nhiều khe hở nên gió lùa vào. Anh em tôi nằm co quắp ngủ trong ổ rơm, đắp chiếu, kín đầu thì hở chân ngược lại kín chân thì thò đầu. Cái lạnh đêm khuya lại thêm dạ trống, đúng với câu “bụng đói cật rét” khiến giấc ngủ chập chờn. Nửa đêm về sáng khi gà vừa gáy tôi thức giấc, thấy ánh lửa từ nhà bếp hắt lên, tôi bò dậy và mon men tới gần để sưởi cho ấm, thấy bu tôi ngồi nấu cám lợn, một tay cầm que tay kia nắm mớ rơm đẩy vào tiếp cho lửa cháy. Bóng mẹ tôi in lên vách, ngả nghiêng theo ánh lửa bập bùng. Đêm khuya, thấy con thức dậy bò xuống bếp   bà mẹ biết ngay con đang thiếu cái gì, vừa trông thấy tôi, bà vội kéo vạt áo lau nước mắt, rồi nói:

- Con đói hả? Ngồi xuống đây sưởi cho ấm rồi bu nướng cho con củ khoai.

Bếp nhà quê đun bằng rơm rạ, có tiếng nổ lép-bép làm bắn ra những tia lửa nhỏ tựa pháo bông, kéo theo tro bụi phủ lên người ngồi nấu. Bu tôi đứng dậy khẽ phủi tro tàn trên khăn tang trắng, rồi lấy củ khoai lang ở cái thúng treo sau lưng, vùi vào đám tro giữa ba “ông đầu rau.”  (cái bếp – cái cà ràng)    

Có thể nhiều người không biết “khoai nướng vùi bếp tro” là gì, mùi vị nó ra sao, ngay cả con cháu nội ngoại của bu tôi hiện nay đang sinh sống trên đất Mỹ cũng không thể biết thế nào là mùi vị khoai lang nướng. Nhưng với tôi, củ khoai lang vùi bếp tro mà bu tôi “ban” cho tôi ngon  không món gì so sánh được. Người ta thường dùng chữ “ban” để nói về những “hồng ân” mà Thượng Đế, Chúa, Phật ban cho con chiên, phật tử, nhưng củ khoai lang vùi bếp tro giữa đêm đông giá lạnh, bóng tối mờ tro bụi, ủ đầy tình mẹ con là hồng ân của mẹ ban riêng cho tôi.  

Bà mẹ khều củ khoai trong đám tro ra, vò nắm rơm chà lên vỏ ngoài cho sạch chỗ cháy đen rồi đưa cho con:

- Khoai còn nóng lắm, con ăn từ từ.

Đúng rồi, khoai nướng thơm và ngon ngọt với trẻ em miền quê, nếu em đói mà vội ăn đến nỗi quên cả bóc vỏ thì sẽ bị nóng phải hả miệng ra, ngửa mặt lên mà thổi  phù-phù, ăn vụng mà nuốt vội miếng khoai lang dễ bị nghẹn. Bụng đói cật rét, hai tay nắm củ khoai nướng nóng thì thích lắm, nhưng không hiểu sao cái tật tham ăn hằng ngày của tôi biến đi đâu mất, tôi cũng chẳng hiểu chữ “hiếu là gì,  vẫn cứ bẻ củ khoai ra làm hai rồi lẳng lặng đưa cho bu tôi một nửa mà không nói một lời nào cả. Biết nói gì đây, dù văn hay chữ tốt trong hoàn cảnh ấy, ngàn vạn lời nói cũng không đủ. Tôi đưa nửa củ khoai cho bu tôi,  chỉ vì tôi thấy bu tôi kéo vạt áo lau nước mắt, chỉ vì trong ánh lửa rơm chập chờn giữa đêm khuya mà tôi thấy mắt bu tôi đỏ. Tôi đưa nửa củ khoai cho bu tôi vì tôi biết bu tôi cũng đói, nhưng bà nhường miếng ăn cho con như các bà mẹ khác.

Cầm miếng khoai trong tay, bu tôi nhìn tôi không nói gì cả, nhưng lại choàng tay qua kéo tôi vào lòng tay kia xoa đầu con. Tôi biết bu tôi đang thổn thức và bà khẽ nói:

- Con lên đánh thức các anh chị dậy, ăn cơm để còn kịp ra đồng.

Hai tiếng “ra đồng” là chỉ công việc ngoài đồng ruộng như cuốc đất, nhổ mạ, cấy lúa, làm cỏ, trồng rau, trồng khoai, trồng bắp (ngô) v.v. Những công việc của nhà nông  làm ra thực phẩm rất vất vả, người thành phố, nhất là các bạn trẻ người Mỹ gốc Việt không bao giờ có thể hình dung ra được nó vất vả như thế nào, cho dù được nghe kể lại, hay được xem qua những hình ảnh lưu trữ.  

Ngày qua ngày, bầy gà một mẹ bẩy con đùm bọc nhau, quây quần dưới mái tranh được bao quanh bởi lũy tre, rồi bị chạy loạn vì chiến tranh. Khi hồi cư về làng cũ chỉ còn hoang tàn đổ nát, nên mẹ con lại chạy theo dòng người di cư. Thấy họ đi, bà mẹ quê cũng dắt con đi, không biết đi đến đâu và đi để làm gì. Những lúc gian nan khốn khổ như thế chắc hẳn bu tôi lại kêu tên thầy tôi, và mong chồng chỉ lối đưa đường cho vợ góa con côi được đến nơi bình an.  

Cuối cùng thì gia đình tôi làm thành dân di cư trôi dạt vào Nam, định cư tại làng Bến Xúc, quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương năm 1954. Người nông dân thường có sức chịu đựng như cỏ dại vất đâu cũng sống được với đất, nhưng mẹ con chúng tôi ra đi không mang theo ruộng vườn, chỉ có hai bàn tay nên phải xoay xở, các anh chị tôi lúc này đã trưởng thành  phiêu lưu về thành phố,  nên gia đình tôi lại di chuyển đến 172/41 đường Lê Quốc Hưng, Khánh Hội, quận Bốn, Sài-gòn.

Bu tôi, một bà mẹ quê lạc về thành phố, bỏ lại sau lưng xa tít mù khơi mái tranh, lũy tre, ruộng vườn, mồ chồng mà bà sẽ không bao giờ nhìn lại được, nên bu tôi như tàu lá úa, chỉ hồi sinh sau khi  có tiếng bập bẹ “bà bà” của các cháu nội ngoại. Có lẽ đây là giây phút hạnh phúc nhất của bu tôi cũng như các bà mẹ khác, thương cháu chăm sóc cháu hơn thương con.

Vẫn tưởng bu tôi được vui hưởng thái bình với cháo rau đạm bạc bên con cháu cho tới lúc đầu bạc răng long, chiến tranh lại tràn về, các con trai, con rể của cụ lên đường tòng quân, thằng Cao Nguyên, đứa Đông Hà, em tôi ở núi Sơn Chà, tôi ở mãi tận mũi Cà Mau, đâu đâu cũng nghe tiếng súng nổ.  Đêm nghe tiếng đại bác từ xa vọng về thành phố bà mẹ quê khốn khổ lại thức giấc, ngồi tựa lưng vào vách  mắt nhắm, tay cầm tràng hạt, miệng đọc thầm kinh mân côi cầu xin Thượng Đế ban ơn lành cho đàn con nơi lửa đạn.

Nhớ lại cuối năm 1962, lúc tôi nhận được giấy gọi đi trình diện Không Quân và Võ Bị cùng một ngày, đang phân vân chưa biết chọn nơi nào thì bu tôi bảo:

- Con đừng đi lính tầu bay, thấy tầu nó bay bay bu sợ lắm, con lên Đà Lạt mà học, vì ở đó có chị Hải của con, chị con sẽ săn sóc cho con,  bu an tâm hơn

Chị ruột tôi ở số nhà 16.C Phạm Ngũ Lão, tôi đã lên đây nghỉ hè nhiều lần rồi, thấy Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị đi dạo phố là tôi mê ngay, nay có thêm lời khuyên của bu tôi nên tôi chọn Võ Bị. Tuy không được bà chị săn sóc, nhưng lại được nhiều đàn anh săn sóc tận tình hơn, nếu bu tôi mà biết “tận tình” như thế nào thì chắc là cụ khóc ngất. Ngày tôi ra trường, bu tôi lên Đà Lạt dự lễ mãn khóa để xem tôi mang lon “quan một” nó ra sao, nhưng mục đích chính là cụ lên để bảo anh rể tôi, làm cảnh sát, sắp xếp lo toan  cho tôi làm việc tại Đà Lạt cho có chị có em để bu tôi an tâm.

Thế rồi khi bu tôi thấy tôi đội mũ bê-rê xanh, chọn binh chủng Thủy Quân Lục Chiến thì cụ lo lắng mất ăn mất ngủ, vì một anh rể khác của tôi ở Thủy Quân Lục Chiến đã bị thương nhiều lần nên tôi phải nói dối cụ là tôi được làm văn phòng ở Thủ Đức, gần nhà hơn.

Nhưng rồi tôi đi biền biệt, từ Bến Hải đến mũi Cà Mau, chẳng có ngày phép để về thăm mẹ, đời lính chiến là vậy! Còn bu tôi  hằng ngày vẫn thót  tim, mỗi khi thấy xe GMC chở quan tài phủ cờ chạy qua cửa. Khi nghe mấy bà hàng xóm bảo rằng: "Áo quan phủ cờ vàng sọc đỏ là của lính chết trận!" Bu tôi lại bủn rủn, vịn tường ngồi xụp xuống đất đọc kinh.

 Rồi ngày N tháng 6/1966, một xe GMC Thủy Quân Lục Chiến chạy vào đường Tô Hiến Thành, Hòa Hưng và từ từ dừng lại trước cửa nhà khiến bu tôi hốt hoảng khuỵu xuống, nhưng người lính hậu cứ Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến tìm nhà bà Châu, bà hàng xóm và cũng là người cùng quê với bu tôi, ở sát vách để báo tin con trai bà là thằng Mão, đã tử trận. Bà Châu xỉu, bu tôi hoảng hốt lo lắng xỉu theo!

Mão và tôi là bạn cùng xóm, cùng làng và cùng tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến. Mão ở Tiểu Đoàn 1, tôi Tiểu Đoàn 2, cả hai tiểu đoàn vừa đụng trận tại ngã ba sông Định, thuộc Bích La Thôn Quảng Trị. Mão tử trận, còn tôi bị thương, đạn xuyên khuỷu tay, thấy không sao nên tôi đã nhắn với hậu trạm là đừng báo tin về cho gia đình biết. Khốn thay, hậu trạm báo về hậu cứ, rồi hậu cứ ở Thủ Đức cứ theo đúng thủ tục mà báo tin cho gia đình, nên hai ngày sau lại một xe jeep Thủy Quân Lục Chiến khác, đậu trước cửa và hỏi nhà ông Tiệp, tên anh cả của chúng tôi, người báo tin chưa kịp nói gì thì bu tôi đã ngã xuống bất tỉnh!

Vì bị thương nhẹ nên tôi xin xuất viện ngay, để đi phép về thăm nhà. Bu tôi đang nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, thấy tôi về, cụ ngồi bật dậy, ngơ ngác nhìn con, hai tay vuốt mặt nắn vai, nắm tay con lắc lắc như muốn biết đây là thực hay chiêm bao? Bu tôi không nói gì mà chỉ khóc, cụ khóc vì lo âu, cụ khóc vì sung sướng còn được cầm tay con vừa từ mặt trận trở về.

Những bà mẹ lính chiến thấy mặt con lúc nào thì hay lúc đó, được hạnh phúc lúc đó, còn suốt ngày dài lại đêm thâu chỉ toàn là sầu khổ vì nghĩ đến con ngoài chiến trường. Tôi xin mượn ý bài thơ  Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan:  Nhưng không chết người con lính chiến, mà chết người mẹ hậu phương! Người con lính chiến nếu có chết, chỉ chết một lần, nhưng những bà mẹ hậu phương thì chết dần chết mòn, chết khi thấy quan tài phủ cờ chạy vào thành phố, chết khi nghe súng nổ  đạn bay, chết giấc khi thấy con trở về trên đôi nạng gỗ.

Bu tôi đã chết giấc nhiều lần như thế khi thấy mấy đứa con, đứa cháu trong dòng họ cùng đi Thủy Quân Lục Chiến lần hồi tử trận như Tô Thanh Chiêu, Tô Văn Sơn, Vũ Tuấn, Nguyễn Thanh v.v. Cuối cùng thì ngày 19/6/1969, trên con kinh Cán Gáo thuộc tỉnh Chương Thiện, những tiếng nổ đã loại tôi ra khỏi vòng chiến, gẫy chân tay, tai, mũi, miệng trào máu họng, nhưng tôi còn nặng nợ, chưa “đi được.”

Nằm trong phòng cấp cứu, tỉnh trong giây phút thì hôn mê từng giờ, tôi đang bồng bềnh bay theo mây gió thì cơn mưa lạnh hắt vào mặt tôi. Giật mình bừng tỉnh, thấy mình vẫn nằm trên giường bệnh, toàn thân băng bó. Mờ mờ nhìn qua lớp băng quấn đầu, tôi nhận ra bu tôi đang lấy tay cạy những vết máu, vết sình đã khô trên mặt tôi, nước mắt mẹ chẩy xuống mặt con, thấy mẹ khóc, tôi biết mình còn sống, cố mấp máy đôi môi, gọi qua hơi thở của bình dưỡng khí:

- Mẹ.

 Tiếng “Mẹ” dễ gọi và dễ thương là thế nên tôi quen với chữ “Mẹ” từ đó.

Thấy con tỉnh lại, nước mắt mẹ dàn dụa thêm vì hạnh phúc khi nghe bác sĩ Trần Công Hiệp, người trực tiếp điều trị cho tôi, bảo rằng tôi sẽ khỏi.

Tôi bị trọng thương, bị loại khỏi vòng chiến thì cũng là lúc mẹ tôi bớt được một phần lo âu, thấy tôi đu mình trên đôi nạng gỗ, quanh quẩn xó nhà thì mẹ tôi mỉm cười:

- Con cứ như thế này thì mẹ đỡ lo.

Chưa trả hết nợ nước nên tôi được hạnh phúc một thời gian bên bà mẹ già nhà quê, bà mẹ không biết viết, không biết đọc mà chỉ biết khóc vì con.

Thế rồi đất bằng dậy sóng, các bà mẹ Việt Nam lại tiếp tục vất vả vì các con, lần sau cùng tôi nghe mẹ khóc là khi tôi cáu kỉnh nhìn mẹ, rồi vất đôi dép cao su làm bằng vỏ xe hơi mà cụ đã len lén để vào túi xách cho tôi lên đường “học tập vinh quang.”

Sau ngày 30/4/75, ba anh em trai tôi cùng hai người anh rể đều lên đường để “được” cải tạo làm con người! Chẳng cần nói thêm thì ai cũng biết một bà mẹ già trong hoàn cảnh ấy “có vui bao giờ.” Nghe hàng xóm xì xào bán tán, mẹ tôi thật thà đi mua quần áo đen và dép râu cho các con để sớm được về đoàn tụ!

Quá khứ đời tôi lính chiến đã khiến mẹ lo âu sợ hãi, nhưng chưa lần nào tôi hỗn với mẹ như lần này, tôi lôi đôi dép cao su và bộ quần áo đen ra khỏi túi xách và quăng nó vào góc nhà. Mẹ tôi nhìn sững tôi và chắc bà tự hỏi: “Tại sao con lại vất những thứ cần thiết ấy, nó sẽ giúp con để sớm được về với mẹ mà!”

Làm sao tôi hiểu được tình thương mênh mông của bà mẹ quê, trong khi bà cũng không hiểu được rằng con trai của mẹ đang chín từng khúc ruột. Tôi lẳng lặng cầm túi xách lên đường, không một lời chào từ giã mẹ già, lúc ấy mẹ đang ngồi tựa lưng vào vách, nước mắt dàn dụa nhìn theo gót chân con. Tôi đâu ngờ đó là lần sau cùng me con tôi còn trông thấy nhau, chỉ vì “người ta” nói dối, thời gian một tháng kéo thành mười năm!

“Cải tạo” tới năm thứ chín thì tôi hay nằm mơ thấy mẹ, linh tính cho biết có điều chẳng lành, tôi hỏi người nhà mỗi khi đến thăm nuôi thì được biết mẹ tôi vẫn bình thường. Nhưng sao vẫn thấy mẹ trong giấc mơ, tôi đem chuyện hỏi lại thì lúc đó vợ tôi đành lôi trong túi xách ra xấp hình đám tang của mẹ,  vợ tôi đã đem theo những lần trước nhưng vẫn dấu kín.

Tôi không còn nước mắt để khóc mẹ vì tôi đã không chào từ giã mẹ trước khi đi tù cộng sản! Tôi không biết rằng đó là lúc chào lời vĩnh biệt, không biết ai vĩnh biệt ai. Mẹ tôi khóc vì các con phải đi xa, đi tù khi đất nước đã thái bình, đến nỗi bị mù lòa, Mẹ tôi ra đi vĩnh viễn khi tôi vẫn còn bị nhốt trong nhà tù nhỏ, chưa được trở về hầu hạ trả hiếu cho mẹ.

Lòng mẹ thương con như biển Thái Bình dạt dào, lòng mẹ như bị dao chém mỗi khi nghe tin con “thắng trận” trở về, trở về trên đôi nạng gỗ, trở về hòm gỗ cài hoa!

Lời nào nói cho đủ, giấy mực nào viết cho hết tình mẫu tử thời loạn ly và tù đày. Những bà mẹ, dù quê hay thành phố, dù bên này hay bên kia đều là Mẹ Việt Nam. Mẹ Việt Nam thì lúc nào cũng vui và khổ đau theo đời sống thăng trầm của các con, không vui khi các con không vui với nhau. Khổ đau biết bao những bà mẹ của các anh lính chiến luôn canh cánh bên lòng, lo sợ phải rên rỉ câu:

- Lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời!

Những ai còn mẹ, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa thì xin chớ có cử chỉ đáng trách như tôi đã phạm đối với “Bà Mẹ Quê” để khỏi phải ân hận suốt đời khôn nguôi ./.


Số Lần Chấm:  
30

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 4,615
Nguồn: Tác Giả
Đăng bởi: Ngô Đồng (7/25/2013)
Người gửi: Ngô Đồng
Người sửa: Ngô Đồng,