Bài Viết Văn Học

Nghệ Thuật Đặt Câu

Phạm Thị Nhung

II.

Ngoài những phương thức nghệ thuật tổng quát kể trên, ca dao trữ tình còn sử dụng nhiều mỹ từ pháp để điểm xuyết trong phép đặt câu:

1. Điệp ngữ: là phương pháp lập lại một từ ngữ (kể cả ngữ nghĩa lẫn ngữ âm) hay một nhóm từ ngữ trong câu một lần hay nhiều lần, làm cho tình ý diễn tả thêm nồng nàn, và nhạc điệu thêm tha thiết.

T.D. Bài “Khăn thương nhớ ai” đã giới thiệu trong phần nói về thể Tỉ, nhóm từ “thương nhớ ai” được lập đi lập lại đến 5 lần, 3 lần hỏi khăn, 1 lần hỏi đèn, 1 lần hỏi mắt. Sự điệp ngữ này tạo nên một âm hưởng biểu cảm đặc biệt để diễn tả nỗi lòng xôn xang thương nhớ người bạn tình chung của nhân vật nữ ở đây.

2. Lối song hành: là cách sắp câu, sắp ý song song với nhau, có khi tương phản nhau, có khi hô ứng hay phù trợ cho nhau.

T.D.

- Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng, biết thuở nào ra.

Hai câu ca dao này có ý phù trợ nhau, cùng nói lên sự an phận của người thiếu phụ ở đây, mặc dầu cuộc đời làm vợ của nàng phải chịu nhiều sự ràng buộc, câu thúc trong vòng lễ giáo phong kiến xưa.

3. Lối đảo ngữ: là lối đổi vị trí của từ ngữ trước ra sau hoặc ngược lại, giúp cho cảnh tình phô diễn thêm tăng, thêm rõ.

T.D.
- Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông.

Đây cũng là lối đặt 2 câu song hành, đồng thời còn có đảo ngữ ở 4 từ cuối mỗi câu. Nhóm từ “mênh mông bát ngát” của đoạn cuối câu trên được đảo lại với nhóm từ “bát ngát mênh mông” ở đoạn cuối câu dưới, giới thiệu cho ta cảnh đồng lúa “mênh mông bát ngát” qua con mắt phóng nhìn, say sưa chiêm ngưỡng của cô gái từ 2 vị trí khác nhau: “bên ni đồng” và “bên tê đồng”. Sự đảo ngữ ấy làm tăng thêm cho ta cái cảm giác về sự bao la tưởng chừng như vô tận của cánh đồng lúa phì nhiêu nơi quê nhà.

4. Tiểu đối: là lối đặt một nhóm từ hay một câu thành 2 vế đối nhau, có tác dụng làm cho tình ý diễn tả thêm tăng mà nhạc cũng thêm giầu.

T.D.1
- Mưa xuân lác đác vườn đào
Công anh đắp đất, ngăn rào trồng hoa.
Ai làm gió táp, mưa sa
Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn.

Bài ca dao trên có đến ba cặp tiểu đối là: đắp đất / ngăn rào, gió táp / mưa sa và cho cây anh đổ / cho hoa anh tàn.

T.D.2
- Nhớ ai ra ngẩn, vào ngơ,
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ a.

Nhóm từ “ra vào ngơ ngẩn” được tách làm 2 vế đối nhau: ra ngẩn / vào ngơ, lại đến cập tiểu đối “nhớ ai / ai nhớ” cũng thuộc nhóm đảo ngữ nữa.

III. NGHỆ THUẬT DÙNG CHỮ

Ngôn từ trong ca dao tuy giản dị, rất ít từ Hán, ngay từ Hán Việt cũng không có mấy, nhưng lại rất nhiều từ biểu cảm, gợi thanh, gợi hình, gợi sắc. Một khi được sử dụng chính xác, có nghệ thuật, chúng giúp cho tình ý câu ca dao được thể hiện rõ rệt và các vẻ đẹp về hình thức của bài ca dao cũng được phô bầy trọn vẹn. Bởi đó, vai trò của từ ngữ trong ca dao trữ tình vô cùng quan trọng.

Ở đây tôi xin nhắc tới hai loại từ thông dụng nhất là từ láy và từ ai.

1- Từ láy.

Đặc biệt ca dao trữ tình ưa sử dụng loại từ láy và còn sử dụng từ láy ở nhiều cung bậc khác nhau. Vậy từ láy là gì?
Chúng ta cũng biết, một từ Việt Nam phát lên thành tiếng là được tạo nên bởi một hay hai, ba nguyên âm đứng độc lập (T.D. : a, ôi, yêu...), hay kết hợp với phụ âm đầu, phụ âm cuối và thanh (không dấu, dấu sắc, dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng).

Một từ gọi là láy hoàn toàn thì phải lập lại tất cả các yếu tố tạo âm của từ gốc.

T.D.1
-Trời mua gió rét kìn kìn
Đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông.

“kìn kìn” là từ láy hoàn toàn. Ở câu ca dao này, nó vừa gợi tả một cách sinh động cảnh mưa to, gió lớn triền miên, vừa tạo được cảm giác rét mướt thấm vào da thịt.

Theo chàng trai si tình ở đây, khi trời mưa gió, rét mướt tới tấp, kéo dài (kìn kìn) như thế, dẫu có đắp nghìn chăn bông cũng không ấm bằng đắp đôi dải yếm (mỏng manh, nhỏ hẹp) của cô mình. Tất nhiên đây chỉ là cảm tưởng, hay chỉ có trong cảm giác của tác giác. Dẫu sao câu ca dao này cũng nói lên được một sự thực: Hạnh phúc của tình yêu sưởi ấm lòng người (tinh thần), giúp ta quên đi phần nào sự rét buốt nơi thể xác. (Dải yếm ở đây cũng như ở câu “Thuyền anh ngược thác lên đây, Mượn em dải yếm làm dây kéo thuyền” là loại dải lưng yếm, dài chừng 80cm, rộng chừng 15cm, khác với dải cổ yếm, chỉ là hai sợi dây vải viền nhỏ buộc sau gáy. Khi mặc yếm, các bà, các cô bắt chéo hai dải lưng rồi buộc về phía trước bụng. Vì dải lưng tương đổi dài và rộng nên thường được dùng để bọc trầu cau đem theo ăn đường, do đó mới có khẩu ngữ “trầu dải yếm”).

Nếu một từ chỉ lập lại 2 hay 3 trong 4 yếu tố tạo âm của từ gốc thì gọi là từ láy không hoàn toàn, như những thí dụ sau đây:

T.D.2
-Hoa thơm, hoa ở trên cây
Con mắt em lúng liếng, dạ anh say lừ đừ.

“Lúng liếng”, “lừ đừ” còn gọi là từ láy đơn hay từ láy đôi.

Cặp từ láy “lúng liếng” tả được cặp mắt không những to đẹp, sáng long lanh mà còn rất linh động, đang đong đưa gợi duyên, gợi tình như mời mọc, như hứa hẹn để chinh phục đối tượng. Kết quả hiển nhiên, cậu trai nào mới lớn bị đôi mắt ấy chiếu vào làm sao không cảm thấy sung sướng, đê mê? Vẻ mặt ngây dại đi, trong khi tâm thần thì đờ đẫn (lừ đừ) như kẻ say rượu, mất hết linh hoạt và tự chủ.

T.D.3
-Cái cổ yếm em nó thõng thòng thòng
Tay em đeo vòng như bắp chuối non.

“thõng thòng thòng” còn gọi là từ láy kép, láy ba.

Phải đọc hết câu 2 ta mới thấy được cái tài tình trong nghệ thuật sử dụng chuỗi từ láy “thõng thòng thòng” ở câu 1. Quả thế, cổ tay cô nàng tròn lẳn, mượt mà, căng đầy sức sống như “bắp chuối non”, thì một khi cái cổ yếm cô nàng đã cố tình buông “thõng thòng thòng”, tức thả sâu xuống một cách hờ hững, trễ tràng như thế, tất nhiên hình ảnh hai trái đào tiên của ai nõn nường hấp dẫn ra sao không cần phải tả ngay cả nhắc đến, chúng vẫn hiện ra lồ lộ (tất nhiên chỉ ở trong trí tưởng tượng của mỗi người). Thú vị thật !

Câu ca dao này làm ta liên tưởng tới câu thơ


“Yếm đào trễ xuống dưới nương long”

trong bài “Thiếu nữ ngủ ngày” của Hồ Xuân Hương.

T.D.4
-Con chim trên rừng kêu thánh tha thánh thót
Mẹ thương con như đứt ruột xẻ hai.

“thánh tha thánh thót” còn gọi là từ láy kép, láy tư.

“Thánh thót” là từ gợi thanh, tả tiếng chim hót trầm bổng, lúc to lúc nhỏ, ngân vang một cách êm ái. Nhưng khi từ láy đơn “thánh thót” trở thành từ láy kép “thánh tha thánh thót” thì lại tả tiếng chim hót trầm bổng, đứt quãng; vì thế ở đây nó được dùng để gợi tả tiếng lòng thổn thức của người mẹ đang đau đớn, lo lắng vì con mình gặp hoạn nạn.

T.D.5
-Một cây khô mộc đợi trông
Hai cây khô mộc đợi trông
Gió đánh trắt tra trắt tréo trặt trà trặt trẹo
Trên cành tùng trơ vơ.

“Trơ vơ” còn gọi là láy đơn, láy đôi.
“Trắt tra trắt tréo trặt trà trặt trẹo” còn gọi là từ láy kép, láy 8.

Câu ca dao trên tả tình trạng bấp bênh của hai cây khô mộc, sống kiếp tầm gửi trên ngọn câu tùng. Nay chúng khô héo, không còn rễ tươi bám vào thân tùng nữa, đã vậy, cây tùng lại mọc chốn cheo leo, ngọn tùng ở thế trống vắng (trơ vơ) nên khi gió bão đầy trời, hai cây khô mộc càng bị gió lớn đánh nghiêng ngả, oằn oại (Trắt tra trắt tréo trặt trà trặt trẹo) chỉ chực rớt xuống.

Chuỗi từ láy ‘’Trắt tra trắt tréo trặt trà trặt trẹo’’ này đã gợi hình, gợi thanh, gợi cảm biết bao nhiêu, và quả hình thức láy nhiều từ càng kéo dài thì sức diễn tả của nó càng mãnh liệt. Chẳng những thế, ở đây nó còn gợi ý, làm ta liên tưởng đến cảnh ngộ bi đát của những người tứ cố vô thân, phải luôn luôn sống trong tình trạng lo lắng, đợi chờ những tai biến xẩy ra, phủ chụp xuống cuộc đời của họ mà họ không có cách nào tránh thoát.

Tóm lại, từ láy có chức năng gợi tả sinh động (gợi hình, gợi thanh, gợi sắc), biểu cảm và gợi ý; ngoài ra nó còn tạo thêm được nhạc tính cho hơi thơ. Quả vậy, từ láy khi phát âm, nhất là ở những từ láy kép, tạo thành một chuỗi hòa âm, giúp cho nhạc điệu câu ca dao vừa phong phú vừa uyển chuyển, nhịp nhàng.

2. Từ ai

Trong ca dao trữ tình, từ “ai” được sử dụng nhiều nhất, và đặc biệt ,nó được sử dụng một cách vô cùng linh động, tài tình, phong phú đến độ có nhiều trường hợp nó chứa đựng nhiều ý nghĩa khác nhau, mà ta chỉ có thể giả thiết chứ không quyết đoán được.

Từ những từ “ai” giản dị nhất dùng để hỏi về một người ta không quen biết, thuộc loại nghi vấn đại danh từ ngôi ba, số ít như:

T.D.1
-Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

hay từ “ai” nói về một người ta không biết, thuộc loại phiếm chỉ đại danh từ ngôi ba, số ít:

T.D.2
-Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Có nhiều từ “ai” khác, tuy dùng dưới hình thức phiếm chỉ, nhưng khi xét tình ý câu ca dao thì ta cũng đoán được chúng ám chỉ người nào.

T.D.3
-Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng.
Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chất chứa sầu đong vơi đầy.

Từ “ai” trong câu 1 thuộc nghi vấn đại danh từ ngôi ba, số ít.

Từ “ai” trong câu 3 thuộc đại danh từ ngôi hai thay cho tiếng anh hay chàng, đứng làm chủ từ.

Từ “ai” trong câu 4 thuộc đại danh từ ngôi thứ nhất, thay cho tiếng em hay thiếp, dùng làm túc từ.

Ý toàn câu: Ai đã chia uyên rẽ thúy đôi ta? Thế rồi anh bỏ đi xa để em ở lại với bao nỗi sầu thương, nhung nhớ.

Từ “ai” trong những câu ca dao sau càng phức tạp hơn:

T.D.4
-Ai về, ai ở, mặc ai
Tôi như dầu đượm thắp hoài năm canh.

Những từ “ai” ở đây có 2 giả thiết.

* Giả thiết thứ nhất

“ai về” tức anh về (ai: ám chỉ đại danh từ ngôi hai, số ít, đứng làm chủ từ).
“ai ở” tức tôi ở (ai: ám chỉ đại danh từ ngôi thứ nhất, số ít, đứng làm chủ từ).

“mặc ai” tức mặc tôi (ai: ám chỉ đại danh từ ngôi thứ nhất, đứng làm túc từ).

Toàn câu có thể hiểu là: Anh bỏ về, tôi ở lại, anh mặc kệ tôi, muốn ra sao thì ra (anh đã bạc tình, phai nghĩa không thèm đoái hoài gì tới tôi nữa). Riêng tôi, một khi đã yêu anh thì tôi mãi mãi thủy chung, như cây bấc đã thấm dầu sẽ cháy suốt đêm trường.

* Giả thiết thứ hai

Trong gia đình cô thiếu nữ ở đây có cuộc vui, tài tử giai nhân vãng lai tấp nập, khiến người yêu cô ở xa có ý ghen tuông. Đây là lời giải thích của cô.

“ai về” tức người nào về (ai phiếm chỉ đại danh từ ngôi ba, số ít)
" ai ở" tức người nào ở (ai phiếm chỉ đại danh từ ngôi ba, số ít)
“mặc ai” tức mặc họ (ai phiếm chỉ đại danh từ ngôi ba, số nhiều)

Toàn câu có thể hiểu là: Ai về, ai ở mặc họ, tôi đâu có thèm để ý đến. Một khi tôi đã yêu anh thì chỉ biết có anh, tôi sẽ thủy chung mãi mãi như cây bấc thấm dầu cháy suốt đêm trường.

T.D.5
-Nhớ ai em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa.
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?

Từ “ai” trong câu 1 và câu 3 thì đã rõ, vì đối tượng của em tất phải là anh là chàng (đại danh từ ngôi hai, số ít, đứng làm túc từ). Nhưng còn những từ “ai” trong câu 4 thì rất phức tạp. Chúng ta sẽ có nhiều giả thiết.

* Giả thiết một: “nhớ ai” tức nhớ anh (ai: đại danh từ ngôi hai, số ít, đứng làm túc từ); “ai nhớ” tức em nhớ (ai: đại danh từ ngôi thứ nhất, số ít, đứng làm chủ từ); “Bây giờ nhớ ai” tức bây giờ lại nhớ anh (ai: đại danh từ ngôi hai, số ít, đứng làm túc từ).

Toàn câu có thể diễn ý như sau: nhớ anh thì em chứ ai, vì chỉ có em mới nhớ tha thiết đến thế (khóc ... đầm đầm như mưa, ra ngẩn vào ngơ).Bây giờ em lại nhớ anh, chứ còn ai ngoài anh ?

Câu ca dao này biểu lộ lòng yêu thương tha thiết của cô gái đối với người bạn tình chung.

* Giả thiết hai: Theo tâm lý chung của những kẻ đang yêu, họ thường hay thắc mắc, muốn hỏi đối tượng xem có nhớ mình không? (tức là có yêu mình không?) như thi sĩ Quang Dũng trong bài Đôi Mắt Người Sơn Tây: “Em có bao giờ em nhớ tôi?”, hay trong một câu da dao đã dẫn ở đoạn trên: Thuyền ơi có nhớ bến chăng?

Từ ý hướng đó, ta có thể giả thiết câu “nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai” như sau: Nhớ em? Anh có nhớ em không hay bây giờ lại nhớ ai? Từ “ai” cuối thuộc phiếm chỉ đại danh từ.

Câu hỏi loại này đặc biệt được rất nhiều phụ nữ ưa dùng. Dẫu biết rằng mình đang được yêu, họ vẫn hay lẩm cẩm hỏi đối tượng (người tình, người chồng) xem có nhớ, có yêu mình không hay lại tơ tưởng đến ai. Đây chỉ là loại câu hỏi làm nũng, làm duyên, kiểu “nhi nữ thường tình” mà thôi.

* Giả thiết ba: Ta cũng có thể giả thiết câu ca dao này theo một tình ý khác hẳn hai giả thiết trên: Nhớ em? Anh mà thèm nhớ gì em, bây giờ anh đang nhớ tới ai kia kìa!

Từ “ai” chót thuộc đại danh từ ngôi ba, số ít, ám chỉ tình nhân của người yêu hay của người chồng. Nếu quả như thế thì câu ca dao này hàm ý hờn ghen, đau đớn, giận dỗi của người phụ nữ yêu mà không được đáp lại.

Trong ca dao trữ tình, từ “ai” không riêng chỉ người mà đôi khi chỉ cả xúc vật nữa.

T.D.6
-Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cầy với ta.
Cấy cầy vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công.

Từ “ai” trong câu ca dao trên vừa chỉ người (thay cho từ ta, đại danh từ ngôi thứ nhất, số ít), vừa chỉ trâu (đại danh từ ngôi hai, số ít), vừa chỉ cả người lẫn trâu (đại danh từ ngôi thứ nhất, số nhiều). Từ “ai” ở đây mang một sắc thái biểu cảm rõ rệt, vì người nhà nông thương quý con trâu như người bạn đồng nghiệp (nghiệp nông gia), từng chia ngọt sẻ bùi với mình. Như thế, trâu và người đã được đồng nhất hóa, bình đẳng với nhau.

IV. NHẠC TÍNH TRONG CA DAO TRỮ TÌNH

Nhạc trong thơ được tạo nên bởi ba yếu tố: Vần – Tiết Tấu và Từ. Ca dao trữ tình rất giàu nhạc tính, khi nhẹ nhàng êm ái, khi thanh thoát lâng lâng, khi uyển chuyển dìu dặt, khi rền rĩ thiết tha... là nhờ ở đâu?
Xin thưa, chính là nhờ ở vần, ở tiết điệu và từ ngữ vậy.

1. Âm hưởng của vần

Chúng ta đã biết, ca dao trữ tình làm ra phần lớn để ngâm, để hát nên nó phải được thể hiện ở những thể thức giầu nhạc tính. Bởi thế ngoài hai thể nhiều âm vận nhất của thơ ta như lục bát và song thất lục bát mà chúng ta đã có dịp phân tích ở trên, ca dao dù làm dưới thể thức nào khác, âm vận vẫn được coi trọng vào hàng đầu.

T.D.1
-Gió hiu hiu
Chín chìu ruột thắt
Nhìn sao bên Bắc
Nước mắt chảy bên Đông
Ai xuôi chi vợ vợ chồng chồng
Không biết đây với đó dây tơ hồng có xe?

Bài ca dao này vừa có vần bằng: hiu, chìu, đông, chồng, hồng; vừa có vần trắc: thắt, bắc, mắt. Vừa có cước vận: hiu, thắt, bắc, đông, chồng; vừa có yêu vận: chìu, mắt, chồng, hồng.

T.D.2
-Chữ xuất giá tòng phu phải lẽ,
Gái có chồng bỏ mẹ quạnh hiu
Bớ anh ơi!
Em nhớ khi thơ bé nâng niu
Ngày nay xuất giá bỏ liều mẹ cha?


Bài ca dao 2 cũng có đủ:
- vần bằng: hiu, niu, liều,
- vần trắc: lẽ, mẹ,
- vân chân: lẽ, hiu, niu
- vần lưng: mẹ, liều.

Tóm lại cả hai bài ca dao trên đều giầu âm hưởng, được tạo nên bởi nhiều âm vận. Vần từ câu một bắt xuống câu hai, cứ thế triền miên cho tới hết bài.

2. Tiết tấu của câu

Tiết tấu là nói đến cái nhịp, cái điệu của câu thơ hay bài ca, dựa vào chỗ ngắt đoạn, tức chỗ chia câu thành từng vế, mỗi vế có nghĩa trọn vẹn. Đó là nhịp dài, khi ngâm người ta ngừng lại ngân nga lâu một chút. Ngoài ra, trong mỗi vế, khi ngâm tùy theo hứng, người ta cũng có thể ngừng lại ngân nga ngắn hơn ở những chỗ vế chia thành từng bộ phận, đó là nhịp ngắn.

T.D.1 Nhịp dài (//)


-Đường đi những lách cùng lau//
Cha mẹ tham giầu// ép uổng duyên con//
T.D.2 Nhịp ngắn (/)


-Đường đi/ những lách/ cùng lau//
Trong những câu ca dao lục bát trữ tình, nhịp thông thường là nhịp đôi, nhịp bốn, có tính cách cân xứng như:

T.D.1 – Nhịp 4/4

2/2/2/2

-Em ngồi cành trúc// em tựa cành mai//
Đông đào/ tây liễu/ biết ai/ bạn cùng//

T.D.2 – Nhịp 2/2/2

2/2/2/2

-Trời mưa/ ướt bụi/ ướt bờ/
Ướt cây/ ướt lá// ai ngờ/ ướt em//

Ca dao trữ tình còn biến tiết, đổi điệu không ngừng, tạo nên cái uyển chuyển, duyên dáng cho hơi thơ.
T.D.3 – Nhịp 2/4

2/2/2/2


-Yêu mình// chẳng lấy được mình//
Tựa mai/ mai ngã// tựa đình/ đình xiêu//

T.D.4 – Nhịp 2/4

4/4

-Đố ai/ quét sạch lá rừng//
Để ta khuyên gió// gió đừng rung cây//

T.D.5 – Nhịp 2/4

2/4/2


-Hỡi cô/ tát nước bên đàng//
Sao cô/ múc ánh trăng vàng// đổ đi//

T.D.6 – Nhịp 4/2

2/4/2

-Trách người quân tử/ bạc tình//
Chơi hoa// rồi lại bẻ cành// bán rao//

Nhịp điệu trong ca dao trữ tình ở những thể loại khác cũng rất linh động.

T.D.7 – Nhịp 3/2/2

4/3/2


-Đạo vợ chồng/ thăm thẳm/ giếng sâu//
Ngày sau cũng gặp// mất đi đâu/ mà phiền//

T.D.8
-Chiếc buồm nho nhỏ//
Ngọn gió hiu hiu//
Nay nước thủy triều//
Mai lại nước rươi//
Sông sâu/ sóng cả/ em ơi//
Chờ cho sóng lặng//
Buồm xuôi// ta xuôi cùng//
Trót đa mang/ vào kiếp bềnh bồng//
Xuống ghềnh// lên thác//
Một lòng/ ta thương nhau.//
3. Nhạc tính của từ

Theo ngữ học, mỗi từ đơn của ta thường là một âm tiết, khi phát lên nhẹ hay mạnh, trong hay đục là tùy theo vị trí phát âm của nó trong khẩu cung (kể từ môi đến cuống họng, kể cả độ mở của miệng). Một từ được phát lên tại vị trí nào trong khẩu cung là phải chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố tạo nên nó: nguyên âm, phụ âm đầu, phụ âm cuối và thanh. Vì thế từ nào có:

- nguyên âm bổng như: i, ê, e
- phụ âm vang như: m, n, nh, ng
- thanh bổng như: không dấu, dấu sắc, dấu hỏi, thì từ được phát ra, âm sẽ cao, trong và nhẹ. Ngược lại, từ nào gặp phải :
- nguyên âm trầm: u, ô, o,
- phụ âm tắc: p, t, ch, c,
và thanh trầm: dấu huyền, dấu ngã, dấu nặng thì từ phát ra âm sẽ đục và nặng.

Sự trong đục của các từ ngắt nhịp trong câu, và nhất là của các từ dùng làm vần có ảnh hưởng nhiều nhất đến nhạc tính của thơ.

T.D.1
-Hôm qua/ tát nước đầu đình//
Bỏ quên cái áo/ Trên cành hoa sen//
Em được// thì cho anh xin//
Hay là/ em để làm tin/ trong nhà.//

Những từ ngắt nhịp và những từ dùng làm vần trong 4 câu thơ này hầu hết đều có những yếu tố tạo nên âm vang và trong, nên nhạc thơ nghe vui, diễn tả được tình cảm trong sáng, yêu đời của chàng trai ở đây.

T.D.2
-Nụ tầm xuân/ nở ra xanh biếc.//
Em đã có chồng// anh tiếc/ lắm thay.//

Âm “iếc” trong 2 từ “biếc” và “tiếc” lấy làm vần ở đây có 2 nguyên âm bổng (iê) vút cao với thanh sắc cũng thuộc loại thanh bổng nhưng đã bị đứt hơi, tắc nghẽn bởi phụ âm cuối ‘c’, được mệnh danh là âm tắc, nên khi đọc lên nghe như tiếng nấc, nhạc thơ vì vậy chậm lại, nghe nghẹn ngào, tức tưởi. Như thế, vần “iếc” ở đây gieo rất đắt, đã cực tả được nỗi tiếc nuối đứt ruột của chàng trai khi trở lại chốn cũ, gặp lại người xưa, tình mình thì đang nồng, người mình yêu lại quá đẹp, nhưng than ôi muộn mất rồi, vì nay nàng đã là gái có chồng!

T.D.3
-Yêu ai tha thiết, thiết tha
Áo em hai vạt trải ra chàng ngồi
.
Đôi khi để đảm bảo cho nhạc tính của câu ca dao (âm luật, âm vận), những âm tiết của từ kép có thể đảo ngược vị trí. Như câu ca dao trên hai âm tiết “tha thiết” được đảo thành “thiết tha” vì thể lục bát chỉ gieo vần bằng (tha, ra).

Ca dao trữ tình lại hay sử dụng từ láy, nhờ sự lập lại toàn thể hay một số yếu tố của từ gốc mà từ láy khi phát âm, hai điểm phát âm sẽ trùng nhau (từ láy hoàn toàn) hay tiến sát gần nhau (từ láy không hoàn toàn) tạo thành một chuỗi hòa âm, giúp cho nhạc điệu của câu ca dao vừa phong phú, vừa tăng uyển chuyển, nhịp nhàng. (Xem thí dụ ở đoạn nói về từ láy).

(còn tiếp)

Trần Ngọc Ninh


Số Lần Chấm:  
67

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 16,592
Nguồn: Hoàng Lan Chi
Đăng bởi: Thành Viên ()
Người gửi: Ngô Đồng
Người sửa: TVMT 7/25/2003; TVMT 7/25/2003; Ngô Đồng 7/2/2003;