Truyện (Chưa Xếp Loại)

NHIỀU KHI MUỐN QUAY VỀ

Phan Thái Yên


Còn không một bận quay về
Vườn xưa ngó bóng trăng thề vàng gieo
Bùi Giáng


1.

Dùng dằng với múi giờ vừa quen đã vội rời xa, người đàn ông thức giấc vào lúc nửa khuya về sáng đêm đầu tiên trở lại nhà. Mắt biếng lười khép mở, nhấp nhem khung cửa nhờ nhờ màn tuyết lặng lẽ phủ trắng vùng thao thức sâu quá canh tàn. Bâng khuâng trong cảm giác hụt hẫng chơi vơi giữa ra-đi-trở-về, người đàn ông thấy mình như con thuyền say giấc mộng trùng khơi, rạt rào con sóng thời gian, lẫn khuất hiện tiền, bạc đầu bờ lau quá khứ. Nằm nghe thân xác mềm theo trí tưởng, chừng muốn nhão ra cho thấm vấy đến tận cùng chốn nơi, đẩm bóng thời gian, lơ lửng trước sau. Ði qua thành phố mà tự thuở thanh xuân vẫn ước mong được đến một lần, sao nghe lòng bồi hồi nghĩ về ngày tháng cũ học trò mộng ươm từ sách vở.

Chuyến tàu điện tốc hành London - Paris băng mình vội vã cuốn theo buổi chiều đầu mùa xuân vương bụi tuyết. Vợ chồng hân hoan nhìn người thanh niên chửng chạc trước mặt. Anh ngồi im lặng phóng tầm mắt nhìn về phía chân trời xa. Họ chợt nhận ra sự trưởng thành của đứa con đi học xa nhà từ gần một năm nay. Họ cười qua mắt nhìn nhau, có lẽ vì nỗi vui từ ý nghĩ vừa thoáng qua đầu. Thằng Bờm của họ. Ðứa con của tháng ngày sau cải tạo long đong, bố mẹ sống lén lút giữa Sài Gòn với tuổi tên vay mượn. Ðứa bé vừa hơn một tuổi trong trại tị nạn, trên hòn đảo hoang lạ xứ người, bây giờ là một thanh niên tài năng đầy triển vọng, đang tưng bừng sống giấc mộng thanh xuân đời mình.
Con tàu trẻ trung lao mình về phía trước, quăng vụt về sau những ngôi nhà cổ kính rãi rác trên cánh đồng vừa tỉnh giấc đông miên, im lìm cây cỏ. Từng mái ngói vướng bụi thời gian ngã màu nâu xám, loáng khuất trong màu xanh non vừa choàng áo mới lên dải bình nguyên đang vươn vai phủi từng mảng tuyết muộn e dè trốn ánh mặt trời.
Người đàn ông ngẩng nhìn khoang trời xanh không một vẩn mây. Con tàu như ngừng lại. Êm đềm. Ông không muốn nhìn xuống để khỏi lạc mất giây phút lắng đọng, mong manh nỗi hạnh phúc nhẹ ngát tơ trời. Những giòng sông, những tình thân, tiếng gió trời, lời ru bên vườn, chiến tranh, hòa bình, cải tạo, thuyền nhân, cuộc sống lưu dân, con tàu, sân ga, ở lại, chia lìa. Tất cả dìu níu vào nhau trong ngờ ngợ chiêm bao, không chiều, không nơi, chẳng trước chẳng sau. Thảng thốt. Chìm sâu.
Người bạn lính cũ, an nhiên sống qua nửa tuổi đời với vợ con trong khu phố ngoại ô London. Tình bằng hữu rộ dậy, vượt thoát vài ngày thăm ngắn ngủi, bởi tiếp dài theo bao năm rượu uống một mình. Câu chuyện thâu đêm nối lại mối lòng chợt rung động hoa niên. Gợi lại những mãnh đời long đong, riêng rẽ mà quen thuộc bởi cùng tang thương trên giòng định mệnh chung của đất nước bất hạnh. Ðịa danh những con sông giòng kinh họ đã đi qua, quanh co trói buộc một thời trai trẻ. Có gì khác nhau về những cơn say, giọt rượu uống vào, giòng máu đổ ra trên giòng kinh nước đục Tháp Mười hay con nước rã rời lục binh trôi Vàm Cỏ ? Hay những cơn sốt rét kinh niên cho vật vã thêm giòng tháng ngày tù đày khốn khó, chốn núi rừng xa, ngoài Bắc trong Nam. Và như thế, sau ba ngày, ba mươi năm sau, hai người bạn chia tay, thân tình nở hoa thắm trong lòng...

Nhìn khuôn mặt ngạc nhiên của mẹ vì mùi nồng khai lúc họ vừa bước xuống đường hầm metro, người con cười lớn. Welcome to Paris, Mom!...Rồi đở lời. Thật ra thì tất cả những gì ba mẹ đọc từ sách truyện vẫn còn đó. Kinh Thành Ánh Sáng. Ðền đài, cung điện, tháp cao... Ngoại trừ những sạp bán sách cũ ở khu Monmartre vẫn chưa mở cửa vì thời tiết còn qúa lạnh.
Họ về đến nhà người bạn ở ngoại ô Paris lúc trời đã sập tối. Bạn cũ gặp lại nhau sau hơn ba mươi năm xa cách, ngờ ngợ mái tóc phai bạc thời gian. Chỉ một thoáng thôi để mắt còn kịp rộn nỗi vui náo nức. Ký ức dồn về trong mắt nhìn nhau. Hình ảnh hai gã học trò Ðà Nẳng vào Sài Gòn trọ học, trên chiếc xe cà tàng, cong lưng đạp từ cầu Trương Minh Giảng đến trường tận trường Khoa Học. Ðêm khuya lắc mà câu chuyện vẫn chưa tàn. Hai cảnh đời như đôi chiếc thuyền nan trên giòng thác ghềnh khốn khó. Ðứa đi cải tạo miệt núi rừng Phước Long. Thằng bị lùa đi học tập lao động ở miền Trung, tiếp theo là những năm tháng tù vì vượt biên thất bại. Hai người mẹ cùng khóc con mình vắn số trong khi chồng thì vẫn biệt tăm trong cảnh giam cầm. Hai ngôi mộ giờ đây nằm lại bên phố vịnh quê hương bơ vơ cát trắng. Từ bao năm rồi mà bố mẹ vẫn nào nguôi thương nhớ về đứa con yêu nằm gối đầu hướng núi Phước Tường, yên nghĩ ngàn thu... Ðâu đây trong gió trời bùi ngùi kỷ niệm thoảng vọng chuổi cười của bầy trai gái đạp xe về phố. Những chùm chà là xanh chát ngắt vội từ ngọn núi nhỏ rung rinh theo từng vòng bánh quay. Có đôi trò nhỏ vô tư sánh nhịp đạp vòng xe, cùng lăn đời nhau vào cuộc trăm năm. Họ có ngờ đâu khu nghĩa trang đìu hiu hoang cát trắng bên đường sẽ là nơi chôn cất một phần đời của họ.
Người bạn châm thêm rượu vào hai chiếc ly vơi.
- Uống đi mày... Năm bảy hai, ở Võ Bị ra, tao về TQLC đánh nhau ở Hải Lăng được mấy tháng thì nghe tin bạn bè nói mầy đi Giang Ðoàn bị tử trận đâu đó dưới Vùng Bốn. Năm ngoái, nhận được tin mầy liên lạc tao mới hay chứ mấy chục năm nay cứ đinh ninh mầy đã xanh cỏ rồi.
- Chỉ xém chết thôi. Cũng may. Viên đạn vào sâu thêm tí nữa thì đã phủi chân leo bàn thờ ngồi rồi. Sau mấy lần hai-mươi-chín-ngày tái khám, tao xin đổi về Giang Ðoàn ở Hội An. Cưới vợ. Bốn tháng sau thì tan hàng...
Người bạn mở cửa bước ra ngoài. Họ đứng trong bóng tối dưới hiên nhà.
- Chuyện đời chẳng biết đâu mà lường. Những năm trong cải tạo, có lúc quá buồn chán, tao đã nghĩ thà ngày trước bị chết ở mặt trận còn hơn phải lây lất sống trong cảnh chết của đói mòn đày ải... Bây giờ thì nhìn con cái khôn lớn, thành tài, làm cha mẹ lòng cũng an ủi phần nào. Chỉ còn nỗi buồn nhớ quê hương, gia đình, đứa con bỏ lại.
Hai người lính già vẫn đứng lặng yên trong nửa khuya về sáng. Khu xóm say ngủ im lìm. Ngọn đèn chong cuối đường cúi đầu, hiu hắt bóng hàng cây đổ dài theo lối gạch nằm trải mình chờ sáng...



                                                                                     Em về bủa rộng hoang liêu
                                                                  Buồn sông bóng mạ bên chiều nhớ nhung
                                                                                                             Bùi Giáng
2.
Tiếng khóc nấc nghẹn của chị Thuyền từ bên kia điện thoại khiến người đàn ông sửng sờ, không tin điều vừa nghe là thật. Có lẽ nào...? Ðứa cháu nội duy nhất chưa đầy hai tuổi đời của chị vừa đột ngột từ trần đêm qua. Ðêm trước ngày chị đã thu xếp công việc, nghỉ ở nhà để chờ gặp lại những người bạn nhỏ thời trung học từ xa xôi đến tìm thăm.
Vợ chồng người đàn ông theo hẹn, đến Bruxelles tìm thăm gia đình người bạn cũ cùng lớp thời Phan Châu Trinh, Ðà Nẳng. Họ dự định cùng rời nhà vào sáng sớm cho kịp hẹn với chị Thuyền ở Troy, thành phố gia đình chị lưu cư gần hai mươi năm nay từ ngày đến Pháp. Cơn bảo tuyết muộn màng rơi từ sau nửa đêm đem mùa đông trở về phủ lên con phố dốc cổ kính ngoại ô Bruxelles. Tưởng chỉ gọi điện thoại để phân trần chuyện trể hẹn vì bảo tuyết, nào ngờ tai họa ập đến choáng váng không ngờ. Họ bàng hoàng nhìn nhau lúc người bạn lúng túng ngỏ lời chia buồn và không dám vướng bận chị lúc tang gia bối rối. Những gặp gở không thành thường bắt đầu bằng tiếng khóc. Dự định ấp ủ từ lâu chợt tàn rũ theo cơn đau thương choàng đến tâm hồn chị Thuyền run lạnh heo may.
Người đàn ông đứng lặng nhìn khoảng trời tuyết sa. Bên ngoài bệ cửa sổ, ngơ ngác mấy nhành uất-kim-hương vừa ươm nụ run rẩy vươn mình khỏi lớp giá băng. Nụ hoa ngại ngần tước ra những vết hồng loang trên tuyết trắng. Tuyết vẫn rơi, phủ trắng dãy mái ngói rêu xưa gảy góc và quãng phố lát gạch mòn dấu thời gian. Nỗi lòng nôn nao chờ gặp người chị thuở mười ba chợt rụng xanh theo cơn tiếc nuối. Ðịnh mệnh sao quá nghiệt ngã với chị. Tiếng khóc tang thương từ bên kia điện thoại, từ một cõi đau. Ông bàng hoàng nghĩ đến những tình cờ oan khiên của cuộc đời... Bốn mươi năm. Cái chết của đứa cháu nội đong thêm âu sầu cho người chị đã lắm cơ cầu.
Người đàn ông nghĩ đến mất mát cũ trong đời chị . Ngôi mộ ấp ủ tình sâu trên đồi xưa chôn cất theo phần đời chị Thuyền buổi Huế thanh xuân, xôn xao giảng đường, náo nức hương duyên . Ngôi mộ được vun xén đắp bồi trong kỷ niệm nhưng lẩn khuất, điêu tàn, trên bãi đồi chói chang, héo khô sim dại, chẳng ngõ ngách tìm ra để quay quắt lối chân chị trở về tìm viếng, lệ ứa theo từng bước không đành.
Biết bao giờ Thuyền trở lại đồi xưa? Người bạn gái của chị thuở học trò đã có lần nhắn hỏi trong một bài viết. Hay Thuyền đã chẳng hề ra đi ? Có phải ngôi mộ liệm cất tình xưa vẫn cát bụi im lìm trên lưng đồi mùa hạ Huế nắng chang đó sao?...
Họ thương nhau. Người thanh niên Huế đi học rồi dạy học ở những ngôi trường trên cùng một phía của con đường xanh bóng cây long não và giòng sông hiền hòa con nước chảy về xuôi. Ðời anh êm đềm bóng mát cổ thành, thân thuộc khúc phố nhỏ nhoi và con đường quen chẳng mấy dài hơn sáu vài cầu phủ phê đôi bờ buổi sáng đến trường, chiều cuối tuần qua phố. Bà mẹ Huế cưới vợ cho con, tìm dâu cho mình. Chị Thuyền mất người yêu. Huế đem tới cho chị Thuyền tình yêu rồi lại lấy lui. Ngày chị Thuyền bỏ Huế mà đi, nước mắt chị rơi nhòa giòng sông, rớt ngược vào tim rồi ở đó dột nát mái đời.
Rồi chị lấy chồng, làm mẹ. Rồi phận nước đẩy đưa, tình nghĩa đổi thay. Cuộc trăm năm dài chưa đủ một nửa đời người đã đứt gánh giửa đàng. Trên vùng đất lưu cư, chị Thuyền tần tảo làm mẹ, làm cha, nuôi dạy con cái nên người. Chị dựng vợ, gả chồng cho con, trọn vẹn những cuộc tình duyên có trầu cau. Tuy bận rộn, lòng chị Thuyền vẫn chắt chiu từng kỷ niệm yêu thương ngày cũ. Cuộc sống thiếu hạnh phúc mà nhiều tai ương và cuối cùng là cái chết của người yêu thuở đầu đời vẫn khiến chị âu sầu mỗi khi nghĩ về. Hạnh phúc lứa đôi của các con và sự ra đời của đứa cháu nội kháu khỉnh đã giúp chị Thuyền nguôi ngoai mà sống vui trong cảnh gia đình êm ấm. Cho đến đêm qua...
Trên đường trở lại Paris, người đàn ông miên man nghĩ về tiếng cười ngọt xớt của chị Thuyền trong khu vườn cây trái sau nhà. Bốn mươi năm trước. Hình như là hàng cây mảng cầu vừa lớn. Cũng có thể là những cây chanh. Ông mường tượng từng chùm hoa trắng thoảng hương xưa. Mười năm sau. Một buổi chiều theo tàu về trốn bảo trong thành phố vịnh biển quê hương. Ngồi chờ mưa tạnh trong quán Chiều Tím cạnh ngôi nhà cũ, gã lính giang hồ bâng quơ nhìn vườn cây sum suê lá. Có lẽ chị Thuyền đang ở một nơi xa nào khác. Còn lại hình ảnh đôi mắt dáng thuyền cười xanh như lá.



                                                                                 Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn
                                                                            Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về
                                                                                                               Tuệ Sỹ
3.
Buổi chiều không nắng, gió lồng lộng lạnh căm. Từ ngọn tháp cao nhìn xuống, giòng sông Seine lặng lờ nước nhuốm màu mây tím thẩm. Giòng sông hình như bất động rồi nhỏ nhoi theo nỗi thất vọng xa dài. Có lẽ chuổi xám trắng dằng dặc của lâu đài, thành quách, đền thờ, đã làm giòng sông nhỏ lại, khúc khuỷu bến bờ. May mà còn có những chiếc cầu nối nhịp qua sông. Nhìn chiếc xà-lan chậm chạp níu dần khoảng cách rồi trong phút chốc mất hút dưới bóng cầu, ông cảm thấy nhẹ lòng và thầm tự trách mình vô lý. Mỗi con tàu đều cần thiết một giòng sông để được lênh đênh và bến hẹn trở về. Lòng ông chùng theo nỗi nhớ về những giòng sông lưu lạc quê nhà. Giòng sông trôi, đẩy nhịp hư vô cuốn trả cơn mơ bất tận kiếp người về lại với cảnh đời dâu biển. Giòng sông trở mình thấm đẫm phù sa, ôm đồm từng nỗi niềm riêng của đá sỏi nghìn xưa mơ hoài một buổi hóa thân. Giấc mơ của đá. Nỗi buồn của từng giọt lệ, từng giọt mồ hôi, rã đọng muối khô vì ngọn gió lịch sữ lắm khi tai chướng lọc lừa.
Từ một chiều hương thị còn vàng thơm bọc áo, đứng trên cầu Bến Ngự tần ngần hỏi Mẹ ngả sông mô thì ra tới biển. Ông đã nổi trôi chìm đắm trên giòng sông đời mình, trôi xa khỏi vịnh biển êm đềm, lênh đênh trên khắp cùng sông biển quê hương mà lòng thì mãi nhớ về giòng sông nhỏ bình yên dáng Mẹ. Quê hương đau nắng hạ cũng buồn... Xốn xang lòng ông hình ảnh con tàu chập chùng đêm trên vùng biển phía ngoài phá Tam Giang loáng ánh trăng khuya. Con tàu đi dọc hết biển quê hương để rồi phân vân bước chân gã lính giang hồ qua đôi lần sông sau trước. Những chiều rượu uống ngà ngà say trên bến Ninh Kiều, nhìn bầy lục bình trôi trên giòng sông bát ngát, lòng chợt thấm thía hai tiếng Trường Giang. Ðêm Ðồng Tháp mù tăm, con kinh dài hơn đêm, hiu hắt ngọn đèn trên bến An Long làm bồn chồn chuyến đò qua Chợ Mới, qua bến Long Xuyên, qua bắc Năng Gù cho lòng lính thú cũng nôn nao ngày phố lớn Sài Gòn.
Ba mươi năm. Giòng nước sông Thu Bồn một cuối tháng Ba đã đẩy đời người vào cuộc truân chuyên, trôi tuốt khơi xa qua bên kia biển. Thôi rồi đêm trăng Thuận Tình mờ mờ cát vàng Xuyên Thọ. Vùng đầm sông nối biển, trộn nước nguồn Ô Lâu-Trường Giang-Thu Bồn-Ðế Võng với nước biển Ðông là dấu mốc oan khiên mặn xát hồn lưu xứ. Người lính trẻ đứng trên chiến thuyền ngoái nhìn doanh trại bốc cháy mà lòng tơi bời mối chung cuộc nhục vinh. Anh lo lắng nghĩ đến người vợ thai nghén đang trông chờ tin chồng từng giây phút ở Ðà Nẳng. Ðôi vợ chồng người bạn sĩ quan vừa cưới nhau xong hai ngày trước ở Hội An. Cô giáo trẻ lạy tạ mẹ cha trong ngày cưới để kịp theo chồng. Cuộc tùng phu định mệnh dài suốt kiếp lưu vong. Ba chị em nhà họ Sử, quán Phương, thường ngày xinh như mộng, quên cả làm duyên, ngơ ngác tội nghiệp ngồi quấn vào nhau trên bong tàu gươm súng rộn ràng. Phận người mở ra, khác biệt mà tương quan trong cấp bách sửng sờ, khóc khô nước mắt và tương lai vô định mịt mờ.
Ba mươi năm. Bước chân lưu vong đã đi hết biển năm châu nhưng đại dương xô sóng trong hồn vẫn mịt mờ bất tận lối về. Người vẫn mãi trên đường đi, canh cánh bên lòng một quê xưa vàng son và đôi tay không mỏi bồng bế cháu con cho tương lai, cho tự hào, dù sống kiếp lưu dân. Có người từ trong nước, muốn tin mình là người tử tế, đã lên tiếng rủ rê về một làng xưa, có chùm khế ngọt đong đưa đêm trăng tỏ để lem thèm đoàn lưu dân họ những tưởng đã đi hết biển. Tội nghiệp con thú hang sâu xiềng xích chưa lìa, chân quen bước quẩn quanh, mắt còn nhấp nhem vì chút ánh sáng từ cửa động đã lên tiếng thương hại bước chân đồng loại ra đi, hú gọi quay về. Tội nghiệp giấc mơ nhỏ nhoi, ngắn ngủn, héo rũ khi ánh dương lên. Tội nghiệp người đánh cá phải đành bỏ lại đêm rộng trời cao và gió trăng phía ngoài cửa biển, im lìm mệt mỏi quày qủa về lại bến sông cho kịp phiên chợ xép mỗi ngày lên, trên chiếc thuyền buồm vá nát rách bươm. Tội nghiệp người đàn bà đôi vú héo hon, vội vã cho kịp thêm một ngày gồng gánh nước sông. Vợ chồng gặp nhau trên quãng đường đê. Cả hai đều thiếu ngủ, chào nhau bằng tiếng ho khan. Những giấc mơ đã không còn. 

                                                           oOo

Người đàn ông ngồi dậy, định bụng làm vài động tác vươn vai cho tỉnh người nhưng rồi chỉ lặng lẽ bước ra khỏi phòng ngủ. Ý nghĩ về buổi chiều trên tháp Eiffel gió lộng và một giòng sông đã trôi đi khiến ông bồi hồi đứng lại, nhắm mắt hồi lâu...Sương mù theo buổi chiều sa xuống mặt nước sông Seine khuất lấp mù tăm. Ngọn tháp như bị bứng gốc, lơ lững trong gió xám lồng lộng thổi quanh. Thành phố bên dưới vừa lên đèn, qua màn sương, mơ hồ một cõi khác xa vời...
Mùi café thơm lừng làm ông tỉnh táo. Vợ chồng vừa trở về cõi riêng thân thuộc của mình. Khu vườn sau nhà tuyết đọng tinh khôi. Người đàn ông âu yếm quàng vai vợ, ly café bốc khói trên tay. Buổi sáng ở Bruxelles, tuyết cũng rơi nhiều như sáng nay.
Biết bao giờ Thuyền trở lại đồi xưa?


Phan Thái Yên


Số Lần Chấm:  
31

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 6,473
Nguồn:
Đăng bởi: Ngô Đồng (2/26/2006)
Người gửi: phanthaiyen