Truyện  

Khúc xương

Traven, B.





KHÚC XƯƠNG
B. TRAVEN

CHU MINH THỤY dịch
 
Đó là một ngày bình thường như bao ngày khác, trời đã quá trưa. Henry – người đàn ông gốc Pháp, chủ một nhà hàng trên đường Bolivar, thành phố Mexico – chợt thấy một con chó mực ngồi trên lề đường, gần cửa nhà hàng. Con chó nhìn người đàn ông Pháp bằng đôi mắt nâu hiền lành đầy thân thiện. Cái nhìn ánh lên vẻ chân chất và một chút cam chịu thường thấy ở những kẻ lang thang tuổi đời chồng chất.
 
Henry nhìn con chó hồi lâu. Dường như con vật hiểu cái nhìn đó theo cách của nó, liền vẫy đuôi, nghiêng đầu rồi hơi nhếch mép như đang mỉm cười. Đến lượt Henry, ông cũng không thể không mỉm cười đáp lại, và cảm thấy lòng mình được sưởi ấm vì nụ cười làm quen đó.
 
Bỗng con chó đứng dậy, vẫy đuôi, tiến đến gần cánh cửa một chút nữa rồi ngồi xuống. Là người nhạy cảm, Henry hiểu ngay con chó hoang đang đói. Thấy cô phục vụ đi ra sau bếp, tay bưng một cái đĩa còn phân nửa đồ ăn, Henry bèn bốc lấy một miếng bít tết mà khách bỏ lại. Kẹp miếng thịt giữa hai ngón tay, ông đưa lên cao như muốn gây sự chú ý, đồng thời gật đầu ra hiệu mời con chó đến ăn. Con chó đáp lại bằng cách lắc lắc mông và tiến lại gần hơn, nhưng vẫn không bước vào.
 
Ngạc nhiên trước thái độ của con vật, Henry gần như không quan tâm đến khách hàng trong tiệm nữa. Ông rời khỏi quầy, cầm miếng thịt bước ra cửa, lại gần con chó. Con chó chậm rãi và khéo léo cắn lấy miếng thịt, nhìn Henry đầy vẻ biết ơn rồi lảng ra xa, đến nằm trên lề đường. Sau đó, nó ăn miếng bít tết, dáng điệu khoan thai. Ăn xong, nó đứng dậy, đến gần cửa và ngồi xuống, kiên nhẫn đợi Henry nhìn về phía nó. Bắt gặp cái nhìn của Henry, con chó vẫy đuôi, há mõm như mỉm cười, lắc lắc đầu ra chiều thỏa mãn. Henry đoán điệu bộ của con chó rõ ràng nó còn đói và có ý xin thêm. Nhưng khi ông tiến về phía cửa với cái đùi gà cầm trong tay thì con chó đã biến mất. Ông hiểu ra rằng nó chờ gặp lại ông lần thứ hai chỉ để “nói” với ông: “Cám ơn ông nhiều…”.
 
xxx
 
Henry nhanh chóng quên chuyện vừa xảy ra. Ừ, con chó lễ phép ấy chẳng qua cũng chỉ là một con chó hoang như bất kỳ con chó hoang nào khác chạy kiếm ăn từ nhà nọ sang nhà kia. Vậy mà hôm sau cũng vào giờ ấy – khoảng 3 giờ rưỡi – con chó lại đến ngồi ngay chỗ cũ, gần cánh cửa mở. Henry mỉm cười với nó như cách người ta chào một người quen. Con chó cũng mỉm cười đáp lại, hơi nhổm dậy, đuôi vẫy vẫy.
 
Henry hất đầu, có ý mời con chó vào bên trong nhà hàng, để dễ dàng cho nó ăn gần bên quầy. Nhưng, dù hiểu rõ lời mời ấy, con chó chỉ đến gần cửa mà không vào. Henry đoán chẳng phải do sợ hãi mà do bản năng tự nhiên, con chó thông minh này nghĩ rằng những nơi có người không phải là chỗ tốt dành cho kiếp chó hoang.
 
Bằng một cử chỉ thân thiện, Henry ra hiệu cho anh bạn bốn chân rằng mình đã hiểu điều đó và bảo hãy chờ một lát. Con chó có vẻ hiểu được thông điệp của Henry qua cử chỉ ấy, nó hơi nhích ra xa cửa như để khỏi quấy rầy thực khách ra vào. Nó nằm trên lề đường, đầu gác lên hai cẳng trước, mắt hé mở, quan sát cảnh Henry phục vụ khách hàng.
 
Năm phút trôi qua, khi cô phục vụ dọn xong một bàn khách, Henry tiến lại, nhón lấy một cục xương sườn lớn còn thừa trong đĩa và đem ra cho con chó. Nó ngoạm lấy một cách khéo léo và cũng giống như hôm trước, đi ra lề đường nằm gặm, dáng vẻ không chút gì là hấp tấp.
 
Nhớ lại những gì đã xảy ra hôm qua, Henry nảy ra một ý định nghịch ngợm rằng mình sẽ đánh cá với một khách hàng xem con chó có đến tận cửa tiệm để cám ơn hay không. Chưa kịp làm điều đó thì ông đã nhận ra con chó đã có mặt trước cửa nhà hàng. Henry vờ như không để ý, cố ý xem con chó có thể chờ đợi như vậy bao lâu. Ba, bốn phút trôi qua, cuối cùng Henry không chịu được, phải nhìn vào mắt con chó. Lập tức nó nhổm dậy, vẫy đuôi, há mõm như cười rồi bỏ đi.
 
xxx
 
Từ hôm đó, Henry không lúc nào quên giữ cho con chó vài mẩu thịt ngon, và mỗi ngày nó đều đến đúng giờ cứ như thể có đeo đồng hồ vậy. Hai tháng trôi qua, Henry đã xem con chó mực già như một khách hàng quen thuộc. Có điều lạ là dù đã hoàn toàn yên tâm về tình bạn chân thành của Henry, nó vẫn chẳng thay đổi thái độ đối với ông. Nó vẫn không bước chân vào nhà hàng, dù “người bạn” cố hết sức mời mọc. Henry thực sự yêu mến con vật hiền lành, ông muốn thấy nó sống hẳn đâu đó quanh nhà để mấy con chó hoang khác biết đường mà tránh xa. Mà không, ông muốn thấy nó thường xuyên hơn đơn giản vì ông thích nó. Henry không rõ con chó có chủ hay không, tuy nhiên khi quan hệ giữa người và chó đã đủ thân thiết để ông có thể vuốt ve người bạn nhỏ mỗi khi cho thức ăn, ông có cảm giác rằng con vật chưa từng được đón nhận những cử chỉ âu yếm, yêu thương kiểu đó. Trong khi ông vỗ đầu con chó nhè nhẹ, nó kiên nhẫn chờ, mõm ngậm miếng thịt và chỉ khi Henry trở về quầy, nó mới đến nằm ở chỗ quen thuộc để ăn. Ăn xong, nó quay lại cửa, ve vẩy đuôi, nói theo kiểu của nó: “Cám ơn ông nhiều. Hẹn ngày mai, vào giờ này. Tạm biệt…”.
 
Một ngày nọ, có chuyện không hay xảy đến với nhà hàng. Một người khách do ăn phải ổ bánh mì cứng như đá đã bị gãy mất cái răng. Nổi cáu, vị khách làm ầm lên khiến Henry phải rối rít xin lỗi và phải bồi thường. Xong xuôi, Henry trút giận lên cô phục vụ, cho cô này biết là cô đã bị đuổi việc.
 
Henry giận dữ gọi điện thoại đến chủ tiệm bánh mì. Hai bên gây gổ nhau một hồi lâu. Henry dằn mạnh ống nghe xuống bàn.
 
Mặt đỏ gay, hai mạch máu ở thái dương căng phồng, Henry quay trở lại quầy và thấy người bạn bốn chân của mình đang ngồi gần cửa, kiên nhẫn chờ đợi bữa ăn hàng ngày. Thấy con vật vô tư chẳng có vẻ gì bận tâm đến bao mối âu lo của ông chủ nhà hàng, lại còn vẫy đuôi “mỉm cười”, Henry đột ngột chụp chiếc bánh khô cứng đó ném thẳng vào con chó. Ông cũng chẳng thể giải thích được tại sao mình làm vậy.
 
Con chó thấy cử chỉ của người đàn ông và dường như nó đã hiểu. Chỉ cần nghiêng đầu, nó có thể dễ dàng tránh ổ bánh nếu muốn, bởi là một con chó hoang, nó đã quá quen với sự hắt hủi, xua đuổi, từng tránh được hàng trăm bận bị ném đá, đuổi đánh bằng gậy gộc… Nhưng nó ngồi bất động, đôi mắt hiền lành và ấm áp chăm chú nhìn gương mặt Henry, sẵn sàng đón nhận một cú trời giáng.
 
Ổ bánh mì nhỏ, sau khi trúng giữa hai mắt con chó, rơi xuống trước mặt nó. Nó nhìn ổ bánh một hồi, như không tin vào mắt mình, rồi ngước lên nhìn gương mặt sượng sùng của Henry. Trong đôi mắt con chó, không có sự hờn trách nào, mà chỉ là sự rầu rĩ của kẻ lâu nay đặt trọn niềm tin cậy vào tình bạn chân thành, bỗng khám phá ra rằng mình bị phản bội, mà không hiểu tại sao.
 
Henry ngây người như thể vừa gây ra án mạng.
 
Cuối cùng con chó nhổm dậy, lúc lắc đầu, quay bước.
 
Henry giật mình, nhìn quanh. Một khách hàng ngồi nơi quầy sắp ghim nĩa vào miếng bít tết. Nhanh như chớp, Henry chụp lấy miếng thịt. Sửng sốt, ông khách đứng bật dậy phản đối.
 
Cầm miếng bít tết, Henry chạy nhanh ra ngoài. Thấy con chó đã đi một quãng xa, ông đuổi theo, hết gọi lại huýt sáo, chẳng thèm quan tâm đến người đi đường đang tròn mắt kinh ngạc nhìn một gã khùng chạy theo một con chó. Chỉ trong khoảnh khắc, con vật đã mất hút khỏi tầm nhìn. Henry ném miếng thịt đi, rồi quay về nhà hàng.
 
- Xin ngài thứ lỗi – Henry nói với vị khách, khi đó đã được dọn một miếng thịt khác thay thế. – Xin lỗi, miếng thịt ấy không ngon… và tôi muốn đem cho một người có lẽ đang đói. Ngài cứ gọi thêm món gì tùy ý và khỏi trả tiền.
 
Henry đi đi lại lại trong phòng, sửa lại mấy cái ghế, vuốt tấm khăn trải bàn cho thẳng. Cuối cùng, ông tiến đến gần cô phục vụ vẫn còn ngồi khóc nơi góc nhà vì bị ông đuổi việc. Ông nói:
- Thôi, bỏ qua những gì tôi nói, Bertha ạ. Cô có thể ở lại. Chuyện này không hoàn toàn do lỗi của cô. Tôi sẽ không lấy hàng của gã chủ tiệm bánh mì nữa, nhưng tôi vẫn cần đến cô.
- Cám ơn ông. – Bertha vừa đáp vừa sụt sịt. – Tôi sẽ không để ông phải phiền lòng nữa.
 
Henry tự an ủi mình rằng hôm sau con chó sẽ trở lại. Nó không thể từ bỏ những bữa ăn thịnh soạn chỉ vì một hiểu lầm nhỏ nhặt. Chuyện giận cá chém thớt như vậy xảy ra hàng ngày, khắp nơi… Thỉnh thoảng mấy con chó đều bị chủ đánh đòn, nhưng chỉ tiếng đồng hồ sau là chúng quên hết. Chó luôn trung thành với chủ tự bao đời nay mà…
 
Nhưng ông vẫn không cảm thấy yên tâm. Suốt ngày hôm đó, trong ông luôn hiện lên “nụ cười” của con vật, rồi sự thay đổi trên nét mặt nó khi đón nhận ổ bánh mì cứng…
 
Ngày hôm sau, từ 3 giờ chiều, Henry để sẵn một miếng bít tết ngon lành dành cho con chó.
 
Đúng 3 giờ rưỡi, con chó đến ngồi ngay chỗ quen thuộc, gần cánh cửa. Henry vô cùng sung sướng. “Biết ngay mà!”, ông mỉm cười. Nhưng cùng lúc, ông hơi thất vọng khi nghĩ con chó này cũng giống bao con chó khác. Ông muốn nó phải kiêu hãnh hơn, cao quý hơn. Dù vậy, ông vẫn vui khi thấy nó quay lại. Ông nở một nụ cười chào đón.
 
Con chó không động đậy, không vẫy đuôi, không “mỉm cười” đáp lễ kể cả khi Henry lấy miếng bít tết cho nó xem, mời nó vào ăn gần bên quầy bằng một cái hất đầu, ý muốn nói nó hãy xem đây như nhà của nó. Kiên nhẫn, Henry lắc lắc miếng thịt đầy vẻ mời gọi. Con chó vẫy đuôi một cái rồi yên lặng. Henry tiến lại gần con chó, đưa nó miếng bít tết.
 
Con chó ngước mắt lên, nhưng vẫn không động đậy. Henry đặt miếng thịt lên lề đường, trước cẳng của con vật và vỗ nhè nhẹ lên đầu nó. Con chó bắt đầu lúc lắc đuôi thật nhẹ, mắt không rời Henry.
 
Sau khi vuốt ve con chó một lúc, Henry quay trở lại quầy, chờ đợi con chó sẽ ngoạm miếng bít tết đem đến chỗ quen thuộc của nó.
 
Nhưng con chó không làm thế. Nó nhìn Henry lần cuối, rồi đứng dậy bỏ đi.
 
Henry chạy vội ra ngoài. Cũng như hôm qua, con chó đi một mạch chẳng quay lại. Chẳng mấy chốc, nó lẫn vào đám người đi đường.
 
Ngày hôm sau, vẫn đúng giờ, nó ngồi ngay chỗ cũ, nhìn vào mắt người bạn trước kia. Giống như hôm trước, Henry tiến lại gần con chó, lần này với cục xương cừu lớn. Con chó vẫn vẫy đuôi khi Henry vỗ đầu và vuốt ve hai tai nó. Rồi nó đứng dậy, liếm bàn tay Henry. Sau đó nó bỏ đi, chẳng thèm quan tâm cục xương.
 
Đó là lần cuối cùng Henry trông thấy con chó. Nó chẳng bao giờ trở lại cửa hàng và cũng chẳng ai thấy nó ở những vùng quanh đó nữa.
 


Số Lần Chấm:  
4

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,192
Nguồn: PRĐT
Đăng bởi: PhuDung (7/5/2008)
Người gửi: Lòng Như Gió
Người sửa: Phù Dung;