Truyện  

Mẹ không...ế

Nguyễn Mỹ Nữ


            Tôi là hàng xóm của chị có gần chục năm trời. Ngày chị dọn đồ đến ở, tôi có qua bên đó giúp. Chị ngồi phịch giữa phòng với bốn đứa con làng nhàng vây quanh. Tóc tai lết bết mồ hôi, đôi mắt vô hồn, khuôn mặt phờ phạc.
Hai thằng con trai chí chóe liên hồi và hai đứa con gái phụng phịu hờn lẫy. Tôi đứng ngoài bậc cửa nửa muốn bước tới hỏi han nửa muốn quay lui, lủi mất. Nhưng chẳng biết phải làm gì? Chân thì chùng chình và lòng rất đắn đo nên chỉ đứng yên. Nhìn. Là những cảm giác như thế đó vào giây phút đầu tiên chị bước chân vào đời tôi. Và tôi: một cách - kiểu, khi đến với cuộc sống chị.
            Đồ đạc mẹ con chị chẳng có gì ngoài quá chừng chừng là sách. Những quyển sách xếp đầy cả mấy cái bao cát. Tôi đọc được những cái tên lạ. Chị bảo bằng sách dịch xuất bản trước năm 75. Khi nào rảnh cứ qua lấy đọc. Chị dư sách nhưng lại thiếu xô, chậu, những giây phơi...và vô số thứ. Tôi hì hục thu xếp, dọn dẹp cùng chị. Cả căn phòng nhỏ. Cả ngoài khu vườn. Chị nhìn sự sạch sẽ, thoáng đãng bao quanh mình có vẻ hài lòng:
- Chị mướn cái nhà này cũng vì cái vườn.
- Dạ!
- Con chị đông. Phòng ở chật - tối. Có chút đất cát cho tụi nhỏ chạy nhảy. Mà chị cũng có chỗ cựa quậy.
- Cựa quậy cái gì hả chị?
- Thì nhé! Cựa quậy mắt, khi nhìn. Cựa quậy tai, khi nghe. Cựa quậy chân khi bước và cựa quậy lòng, khi buồn. Chuyện. Đàn bà ấy mà.
Nói đến đó mắt chị tối sầm. Chị có một đôi mắt rất đẹp. Màu xám tro với những tia nhìn rất dữ. Tia nhìn ấy cứ một chốc lại lóe lên, sáng rực. Trưa đó, tôi ngồi bệt trên nền nhà vừa lau, ăn bún chan mắm nêm với mẹ con chị. Chị phân ra hai chén. Một chén không ớt cho tụi nhỏ và một chén ớt hơi bị nhiều nhiều cho hai chị em. Thứ ớt hiểm, xanh bác Sa trồng đầy vườn, ăn có mà quanh năm giáp tháng cũng chẳng hết. Chị nói chị tên Lan. Nguyễn thị Lan. Tôi nói em gọi chị là Dã Lan nghe. Chị nói cũng được. Cho nó bớt trần trụi. Cho nó thơ thơ một chút ấy mà. Bác Sa đứng ngoài cửa sổ la lên: "Khô khốc vậy sao tụi nhỏ nuốt?". Chị dà dạ và cười cười. Hình như bốn đứa con nhà chị đã quá quen với các kiểu ăn khổ khổ như thế này.Vì thấy tụi nó có vẻ rất ngon miệng. Làm một hơi bay vèo cả rổ bún. Nhìn sức ăn của bốn đứa tôi hiểu được những vất vả của chị. Và thương.
Chị đang đi học. Chị nói cũng phải lấy cho rồi cái ngoại thương để dễ có việc làm ổn định. "Chứ sao bấp bênh quá ông bạn". Chị gọi tôi như vậy đó: ông bạn. Dù thấy tôi đang còn rất trẻ và đã biết tên. Các con chị gọi tôi theo những người trong xóm, là: "Chú Út". Tôi thích cả hai cách. Chị học vào khi nào chẳng rõ. Chỉ thấy độ ba giờ đã nghe tiếng Chaly bên đó nổ máy. Thằng Hoàng nói mẹ bán cà phê ở ga xe lửa. Khoảng trên sáu giờ chị về lo cho các con ăn uống, đến trường và lặn luôn một hơi tới trưa. Đầu giờ chiều cũng vậy. Tôi thường có cảm giác buồn - trống khi bên đó thiếu tiếng người nhất là vắng bóng chị vào - ra. Tối, trước bảy giờ chị lại đi. Cái Hậu bảo mẹ đến quán của bạn. Tôi hỏi một trưa ngồi dưới gốc khế nhìn chị giặt đồ:
- Sao tò mò thế ông bạn?
- Thì vẫn còn trẻ mà.
- Trẻ là phải thế à!
- Cũng thi thoảng...
- Ừ! Thi thoảng. Có gì đâu bạn chị mở quán nhậu. Nó trụ từ bốn giờ, chị đến thay.
- Có đỡ không chị?
- Thu nhập á? Quá đỡ ấy chứ! Thì em thấy đấy. Cả đoàn tàu há mồm nhà chị rồi là bao thứ. Trông tất tần tật vào đấy. Bằng bạn chị giúp ấy mà.
- Còn cái quán cóc ở ga?
- Ối giời! Có đáng gì! Bán cho vui. Là nói thế chứ được đồng nào hay đồng nấy. Hôm nào dậy sớm được, ra ga. Chị pha cho một ly đặc quánh. Có mà xây xẩm suốt ngày.
Trưa đấy, tôi thay thằng Hoàng xách nước cho chị xả đồ. Chị khúc khích: "Ối giời! Đỡ quá. Thế thì chị xả mười lượt nước mới thôi, ông bạn nhé! Mọi lần thấy thằng Hoàng bé quá rất thương nên đâu dám xả nhiều". Chị cũng cho biết không phải không tự làm được những việc như thế nhưng muốn con phải quen với sự giúp đỡ mẹ, các em và biết quan tâm tới gia đình chứ không phải như bố nó. Giọng chị buồn và buổi trưa cũng bỏ ngang những niềm vui rất bé vừa nhen lên trong lòng tôi. Người đàn ông của đời chị. Bố của các con chị. Là ai? Và ông ấy thế nào? Những câu hỏi làm giấc ngủ tôi chập chờn...
Lẩn quẩn ở ga khá lâu, tôi mới tìm ra chị. Có bao nhiêu là cái quán cóc xíu xiu như chị ở nơi này. Vốn liếng có là bao. Thì một cái tủ nhỏ trong bỏ vài gói thuốc, trên đặt mấy ấm trà, vài cái phin, hai cái bàn xếp, dăm bảy cái ghế đẩu. Khi nhận ra chị, tôi không đến ngay mà cứ đứng ì ra đấy, chôn chân tại chỗ, ngắm nhìn. Chị như rất nhiều người đang bán buôn ở cái nhà ga này mà như không phải. Giữa họ, chị chạnh ra. Và trong họ chị khác biệt. Không cùng chung, không chan hòa, không nhòa lẫn. Bất giác lòng tôi sao nhoi nhói. Đăm đắm nhìn chị. Và thương. Chị mừng lắm khi thấy tôi lững thững bước lại, vội kéo ghế sát bếp, bắt ngồi và đon đả:
- Trời ơi! Chị không ngờ đâu, ông bạn. Ngồi đây cho ấm, nhé!
- Thật không?
- Thật chứ! Trời đang rét thế này mà dám ra đây phơi sương. Ông bạn hay thật! Uống nhé!
- Vâng ạ! Một ly rất dẻo. Thật quánh. Cho say luôn.
- Ờ! Để chị làm cho hai cốc. Uống với ông bạn luôn thể. Cũng vãn khách rồi.
Chị có cách uống hết sức... nỗi niềm. Ôm gọn cả cốc cà phê nóng trên tay, nghiêng đầu ngó lửa và tư lự hằng mấy phút liền mới nhấp một ngụm. Từng ngụm, từng ngụm nhỏ cho đến khi bằng hết mới thôi! Chị bảo chị yêu những buổi sớm ở đây. Thích hơn nếu vào mùa đông. Chị ưa nhìn những con tàu đi qua. Ưa hơn những con tàu không dừng lại. Không dừng lại nghĩa là không có sự sum vầy. Không có sum vầy đâu thể có chia ly. Đúng không, ông bạn? Nom chị buồn lạ những lúc như thế này. Chị bảo vừa ly dị chồng. Chị không đem theo một cái gì cả khi rời ngôi nhà ấy ngoài bốn đứa con và rất nhiều sách vở. Chồng chị chê chị vụng - đoảng, không biết kiếm tiền như rất nhiều phụ nữ giỏi giang khác nên bắt các con phải ăn khổ, sống cực. Tòa bảo phải chia tài sản. Chồng chị gân cổ cãi: "Cô ấy nuôi thân còn chưa rồi. Cái nhà là do tôi tạo ra mới có. Cả như cô ấy. Cái lều vịt cho cả gia đình chui rúc cũng còn không có nữa là. Nhà của tôi. Cớ gì tôi lại phải cưa đôi cơ chứ!". Tòa phản đối: "Nhưng tất cả con anh đều đòi sống với mẹ. Anh phải tạo điều kiện cho cô ấy lo chỗ ở cho tụi nhỏ chứ!". Chị lên tiếng: "Tôi không thích được chia. Không thích ông ấy phải trợ cấp. Mẹ con tôi sẽ lo cho nhau được". Đã quyết thế, vậy mà dằng dai mãi mới xong được thủ tục. Mẹ con chị ra đi vào buổi sớm thì buổi chiều anh ấy đưa người yêu về sống. Họ đã lén lút quan hệ với nhau từ rất lâu nên chị không hề ngạc nhiên, khi biết. Có là gì đâu, ông bạn!!! Tôi gật gù: "Ờ! Có là gì!!!". Chị bảo ra ga uống ly cà phê với chị thì được nhưng cấm tiệt vào quán nhậu của bạn chị. Tôi sững cồ: "Thì cứ xem em như khách. Vào uống chai bia không được à?". Chị nghiêm mặt: "Không. Không thật. Ở đấy phức tạp lắm. Nhốn nháo bắt khiếp và chị có hở tay ra được tí nào đâu để ra ngồi với em". "Thì để em lăn vào giúp". "Ờ! Không xong đâu. Chị xin, nhé! Ông bạn".
Buổi tối, tôi hay sang phòng chị để nhắc nhở tụi nhỏ học hành. Các con chị ngoan lạ. Ngoan đến kinh ngạc. Từ thằng Hoàng vừa lên cấp hai con đầu đến bé Tiên, út ít. Kể ra Tiên cũng hay có tật nũng nịu, vòi vĩnh mẹ nhưng vẫn là rất giỏi so với con cái những nhà quanh đây. Khuya nào, Tiên cũng bắt mẹ kể chuyện và luôn đòi chuyện con khỉ. Chị kể hoài khiến tôi thuộc làu. Đó chẳng phải là chuyện cổ tích cũng chẳng phải chuyện đời thường. Chuyện có những chú còng biển. Những cọng cỏ lông chông. Một cái đảo ở rất xa với nước bao quanh xanh ngăn ngắt.Và mẹ con nhà khỉ mới hay làm sao! Khỉ con tính ương chướng như... Tiên và khỉ mẹ lại oái oăm như... mẹ Tiên vậy. Tuy vậy họ lại rất thương nhau. Cứ đến chỗ này là Tiên díp mắt ngủ và câu chuyện của chị dừng lại nên chẳng ai rõ được cái khúc đuôi thế nào. Có lần nghe tôi hỏi, chị tần ngần trả lời: "Biết để làm gì? Ông bạn. Không biết lại hay!!!"...". Thằng Hoàng luôn nhắc hai đứa kề đánh răng mới được lên giường. Riêng phần nó, xách nước đổ đầy cái lu để trước cửa phòng, bảo: "Có thế sớm ra mẹ mới không phải khua gầu. Sợ ồn bà mắng. Bà lại không cho mẹ con ở. Bà đuổi đi". Nghe Hoàng nói người tôi nhột nhạt và nghe con nói, mắt chị nhòa buồn. Hiếm có tối nào, chị trở về từ quán nhậu mà không loáng thoáng ngửi được mùi rượu bia. Chị bảo bằng khách mời. Phải tìm cách từ chối chứ không có mà đêm nào cũng say. Tôi thích cái cách chị dừng xe trước cổng, tắt máy và dắt bộ vào nhà. Cái bóng chị xiêu xiêu chui chúi. Cúi xuống khi đi ngang qua tàng sứ và băng vội khi ngang qua những gốc cà. Nom chị lầm lụi thế nào và gợi lên rất nhiều thương cảm. Đêm nào chị cũng có chuyện quán để kể. Đó là lúc mẹ con chị đã ăn cơm tối xong và chị cũng vừa rửa ráy, tắm táp. Chị hay gội đầu đêm. Tóc chị cắt cụt ngủn. Chị bảo: "Là tóc tém. Hồi trước kiểu này là "hot" đấy. Tóc ngắn thế này chả cần sấy nóng, sấy lạnh chỉ cần ngồi trước gió ngã đầu qua, nghiêng đầu lại một chốc là khô ngay". Chị hỏi: "Ông bạn! Chuyện quán xá hả? Quán sớm hay quán đêm nào?". Và nghịch ngợm: cà phê cóc thì chuyện lóc xóc, lọc xọc. Cứ như cái tàu qua. Tiếng bánh trên đường ray. Như tiếng viên đá va vào thành ly. Như tiếng ấm nước sôi trên bếp. Tôi vặc lại: "Còn quán nhậu?". Ô! Càng nhiều. Chị tỉnh bơ đáp trả.
Tùy theo giọng kể của chị, tôi biết được quán có khách hay không? Khách uống nhiều bia hay ít? Khách dễ chịu hay khách khó thương? Thường, mùa nắng hàng họ rất đắt. Chị vui nhiều nhưng ốm hẳn. Còn mùa mưa? Tôi thương quá hình ảnh chị trùm kín người trong cái áo cánh dơi, dắt xe qua cổng, bước ngập ngừng. Chị hay đứng trước cửa phòng, rũ áo, rút cái khăn móc gần đó lau khô mặt, chùi chân rất kỹ rồi mới thò đầu vào nhăn nhở: "Bia...ế đây. Mồi...ế! Quán...ế đây. Mẹ...không ế!". Vừa nghe đến thế là bọn trẻ chạy ùa ra, ôm chầm lấy mẹ. Chị vòng tay ôm hết bốn đứa vào lòng và mẹ con cùng reo lên: "Quán...ế đây. Mẹ không ế! Quán ế đây. Mẹ không ế! Mẹ không ế!...". Tôi lặng người trước cảnh này và ước sao mưa tuột trôi. Trôi mãi vào đêm cho sớm mai trời hanh khô, tạnh ráo. Nắng, chị khỏi trùm áo cánh dơi lướt thướt ở quán về và cất tiếng gọi con bằng những câu rất cũ. Và buồn...
Có một khuya cũng phải gần mười một giờ, tôi đã định cài cửa ngủ thì thằng Hoàng bước sấp, bước ngửa chạy sang, bảo: "Chú Út ơi! Sao giờ mẹ chưa về? Cái Tiên khóc quá. Cháu phải ở nhà trông em. Chú đi kiếm mẹ hộ, chú nhé!". Tôi tới quán vừa hay gặp được cô giúp việc. "May quá, có anh. Cô Lan say lắm! Hôm nay sao lạ chứ mọi ngày có thế đâu cơ chứ!". Tôi vọt xe rất nhanh theo hướng tay chỉ và chẳng mấy chốc đã thấy chị ở ngay trước mặt. Chị chạy xe vẫn rất ổn và nom tỉnh queo ấy mà. Bởi đó tôi bỏ ý định gặp và tìm cách đưa chị về. Đường vắng hoe và lờ mờ ánh sáng khiến màu trắng của chiếc Chaly và màu vàng tươi chiếc áo chị mặc thêm nổi bật. Đêm nhẹ nhàng và thanh khiết quá! Đêm vô vàn dễ chịu, khi chạy xe rề rề theo chị. Giá mà được như thế này mãi. Ước gì đêm dài ra và đường thêm hun hút. Với chị phía trước tà tà một cách chạy. Với tôi, phía sau tà tà một kiểu theo. Không cùng sóng ngang. Không ở cạnh nhau mà vẫn thấy rất hạnh phúc. Một sự tách rời. Một dõi nhìn. Một bám vướng... lại khiến lòng thật vui.
Đến một khúc cua, chiếc Chaly của chị bỗng đứng khựng lại. Tôi thấy chị xuống xe, chống chân và ngồi thụp xuống đất loay hoay. Thôi, chết rồi! Xe chị bị hỏng. Cái Chaly của chị. Biết nói như thế nào nhỉ? Máy móc rệu rạo lắm. Tôi đã nhắc chị bao lần phải thay thứ này, sửa thứ khác mà chị cứ phó mặc. Đang định phóng xe tới giúp, tôi bắt sững người. Kìa chị! Ơ! Không tưởng được! Bằng tất cả sức bình sinh, dường như là thế. Chị rút phăng cái xích xe đã bị đứt ra, đứng bật dậy rồi quay. Chị quay như múa. Một điệu múa thật đẹp và đầy ắp những cảm hứng. Người vũ công chị hiển hiện đấy rồi lại như mất hút đấy. Người vũ công chị nhập vào đêm lồng lộng rồi khe khẽ bước ra. Và lừng lững. Và quay. Những vòng quay dịu dàng và điên đảo, thư thả và tới tấp...  Bóng chị nhóa nhòa, xiêu vẹo, xấp nghiêng đổ tràn lên mặt đường những lát cắt sắc lẻm cùng bao vết nứt, tóe đau. Trời ơi! Tôi đã sống bao năm trên cõi đời này để đêm nay, được lặng người nơi một góc phố ngắm nhìn, chiêm ngưỡng người đàn bà của tôi hốt hết cả cõi lòng, hồn vía của mình ra để xuất thần trong điệu - múa - xích - xe. Rồi nữa chứ! Vắt hờ hững lên vai và nghênh ngang bước.
Bây giờ thì tôi hết trông đêm dài. Hết trông đường xa ngái. Chỉ thầm mong chị nhớ được lối về. Và thế đó! Chị: tay dắt Chaly chân lầm lụi bước và tôi: ráng cắn chặt răng kềm cảm xúc ứa tràn. Để không thể chạy ùa lại chị ngay tức thì. Để không thể và không thể... Chân run, lòng rối và cái xe sao quá nặng khiến tôi lảo đảo muốn quỵ ngã bao lâu. Lấp vấp vậy rồi tôi cũng theo chị đến tận khu vườn. Phải tận mắt thấy chị lọt thỏm hẳn người vào bên trong căn phòng, tôi mới yên tâm trở về nhà mình. Chưa kịp thay đồ, đã nghe những tiếng cười vui rộn rã từ bên chị. Không dừng được tò mò, tôi lại len lén bước sang. Đứng thập thò ở ngoài, tôi chẳng nghe rõ được tiếng ai ngoài tiếng thằng Hoàng: "Đấy! Mẹ say mẹ mới chịu lộ bí mật nhé! Thế mà mẹ giấu chúng con. Cứ tưởng nhà mình chẳng có tiền nên cái xe rách nát, bệ rạc thế kia mà anh em con cũng phải ráng đi. Đấy! Rõ ràng là mẹ có tiền. Mẹ nhớ mua xe mới cho con. Mẹ hứa nhé!". Nghe đến đó, tôi chỉ muốn bật cười, vội bụm miệng lủi về nhà mình thật gấp. Mấy hôm sau tôi lại phải thêm một lần nữa bụm miệng khi thấy thằng Hoàng cỡi chiếc xe đạp mới toanh, cái mặt cứ vênh lên, ra chiều đắc thắng. Còn chị. Một khuya nơi góc khế, xoa mãi mái tóc cắt cụn ngủn của mình: "Thằng Hoàng bảo có nhờ chú Út. Cũng may mà ông bạn không đi tìm chị...".
Tôi sang chị mỗi ngày. Bọn nhóc rất quý. Và chị. Chắc chẳng hơn gì: ông bạn. Thôi thế cũng được. Tôi phát hiện thêm những điều thú vị từ chị, khi sống gần. Giả dụ như sự hài hước hết sức thông minh. Giả dụ như cái sự ghiền xem phim hành động của Mỹ. Hỏi xem lúc nào. Chị bảo lúc rất khuya khi tôi và bọn nhóc đã ngủ khì. Xem không đâu đã đủ. Còn phải chờ tôi sang để kể lại. Tôi mê cái lối kể nhiều hăm hở của chị. Cứ như là trẻ con. Từ đó, tôi chợt nhận ra một Dã Lan thơ dại bên một Dã Lan già nua. Một Dã Lan tự nhiên hồn hậu bên một Dã Lan khinh bạc bất cần.
Hôm đám cưới tôi, chị vui lắm. Qua nhà sửa soạn, chuẩn bị trước cả tuần. Chị khéo tay nên nhận phần cắt dán trang hoàng. Chị cắt chữ theo kiểu thư pháp. Thật lạ và hết sức tài hoa. Minh, vợ tôi có cảm tình với chị ngay từ lần đầu gặp  rồi quý mến thêm. Và thương. Một lần thấy hai người đứng sát cận, tôi bỗng cắc cớ hỏi: "Ai là hoa hậu đây?". Chị cười khanh khách chỉ Minh không quên đưa tay chỏ vào mình: "Còn đây mẫu hậu". Thế là chị có tên gọi mới: Mẫu hậu. Hôm Minh đi sinh nhà chẳng có ai, tôi hoảng quá vội băng qua hàng rào: "Mẫu hậu ơi! Chị ơi! Làm sao giờ? Vợ em muốn đẻ rồi. Mẫu hậu!". Minh cũng kêu vậy lúc oằn người trong những cơn đau ở phòng phụ sản: "Mẫu hậu ơi! Em không chịu nổi. Chắc em chết quá. Mẫu hậu ơi!". Tôi đứng bên ngoài nước mắt chực trào. Thương Minh quá! Và thương cả mẫu hậu. Hôm sản phụ từ bệnh viện về, chị được mẹ tôi nhờ đưa mẹ con Minh từ tắc xi vào nhà, vì muốn Minh hưởng chút "dớp" của chị trong chuyện nuôi dạy con.
Chị chẳng mấy khi sổ mủi, nhức đầu, viêm họng... Ít ốm nhưng ốm trận nào thì ra trò trận ấy. Chị tính nhẩm bảo cứ khoảng hai năm chị lại ốm như thế một lần. Cũng chẳng rõ bịnh gì nhưng cứ như người kiệt sức, cạn lực và sắp chết đến nơi. Hoàng nhăn mặt: "Bác sĩ bảo mẹ bị chứng suy nhược thần kinh lại làm quá mà chẳng chịu thuốc men bồi bổ". Hoàng thường lo cho mẹ tất tần tật rồi mới ôm cặp đến trường. Trước khi đi không quên nói với sang bên tôi: "Chú Út trông chừng mẹ hộ nhé!". Tôi thương quá hình ảnh chị lả người xanh xao, má hóp, mắt sâu... nằm dán mình trên giường chập chờn theo từng cơn nóng, lạnh. Chị hay khóc vào những khi như thế, lúc chỉ có một mình. Tôi sang có lần gặp, trái tim nhũn mềm và vội bỏ ra gốc khế, rưng nhìn hoa tím rơi ngập sân. Sao mà khế ra nhiều hoa đến thế những lần chị đổ bịnh.
Chị ốm thêm ba, bốn lần gì đấy. Và say - say thật - đúng hai lần nữa thì mua được nhà. Vẫn thế một lối ốm. Vẫn thế một kiểu say: đi lang thang, phóng xe tà tà rồi về phòng lục bằng hết tiền, vàng, đô la, sổ tiết kiệm đã cất giữ ra khoe với các con. Chị cũng có ý rèn dũa, tập cho tụi nhỏ tính tự lập nên mới phải giấu giếm, ai dè say lại sinh đổ đốn ra thế. Chị than thở và kết lại bằng cái chép miệng: "Rõ cơ khổ..." Tôi vừa mừng vừa buồn, khi biết rồi ra sau tất cả, chị vẫn gầy dựng được cho các con mình một mái nhà. Một chỗ trú ngụ riêng tư. Các con chị lớn tướng và vẫn rất ngoan. Hoàng đang học năm cuối. Bé Tiên vừa xong cấp một. Mấy đứa ghiền em nên Minh rất được nhờ. Con bé nhà tôi được các anh chị ẵm bồng, chăm chút suốt ngày. Tiên đã hết mê chuyện con khỉ nhưng con gái tôi lại ưa mẫu hậu kể: "Chú sóc nâu của bà". Mẫu hậu vừa kể vừa dòm chừng chủ nhà. Giọng kể kéo dài nhiều riễu cợt. Còn đôi mắt lém nghịch quá chừng chừng cộng với mái tóc cụt ngủn. Tếu đến không chịu được.
Chị học ngoại thương mà được giao toàn những công việc sát thương, khi ra trường. Ấy là chị nói vậy chứ làm gì ở cơ quan ai mà biết được. Vợ tôi mừng: "Cái chính là chị Lan đã có công việc ổn định". Tất nhiên là chị bỏ việc ở quán nhậu và không tất nhiên, chị vẫn lóc xóc cà phê cóc ở sân ga. Chị bảo ghiền lắm rồi. Ghiền được dậy sớm. Ra đường trong cái vắng vẻ, thênh thang. Ghiền nghe mùi tàu xe. Ghiền mùi cà phê, mùi rác, mùi người. Ghiền thấy những nhộn nhạo, phức tạp... bao quanh mình. Đôi hồi có việc đi đâu sớm. Tôi hay ghé lại chỗ chị. Ngồi, chỉ một chút. Không dài. Chẳng lâu. Đủ, để nhâm nhi một ly đen đặc quánh và đủ để dõi theo một đoàn tàu đi qua. Chỉ không đủ. Luôn luôn là không đủ khi muốn cảm thấu những nghĩ suy trong tâm hồn người phụ nữ đang ngồi kề sát một bên mình.
Bữa tiệc ở nhà chị có rất ít khách mời và tôi là một trong số rất ít ỏi đó. Vợ tôi bận trông con nhỏ. Bác Sa thì do trời trở nên nhức xương cốt quá thể. Có mỗi cái chân mà còn không nhúc nhích được thì hòng gì? Bác bảo thế! Chị vui suốt bữa ăn. Và ăn rất nhiều nữa chứ! Chỉ tịnh không nhấp lấy một giọt. Bưng ly trà đá cụng với mọi người, xoa tóc rồi  cười: "Tôi say rất đáng xấu hổ. Xin thông cảm cho". Và quay qua tôi nheo mắt: "Đúng chưa? Ông bạn!" Thằng Hoàng thì thào một bên tai: "Giờ mẹ có say cũng mất tiệt cái đoạn cuối vì phải nợ đầm đìa khi mua nhà. Mà chú Út có đồng ý không? Cái đoạn ấy mới là ấn tượng chứ!". Tiệc tan, chị đưa tôi ra tận đầu hẻm và chần chừ mãi, không chịu trở vào. Chúng tôi đứng rất lâu trên hè đường và không dưng cùng quay về hướng nhà cũ. Nơi tôi sắp trở về và nơi chị vừa rời xa. Tôi biết chị và các con chưa bao giờ thuộc về căn phòng ấy, khu vườn ấy nhưng cả chị cả bọn nhỏ rất thích được sống tại đó. Như chị chưa bao giờ thuộc về tôi nhưng luôn thích có tôi. Tôi là ông bạn: ông bạn của Dã Lan. Một ông bạn không hơn và chẳng kém.
 
            Vậy thì! Hãy xem đó. Tất cả. Là những nguyên cớ. Những duyên do run rủi đã đẩy tôi tìm đến và lỡ vướng vào chị. Vướng, chỉ một chặng đời. Hãy biết vậy và hiểu vậy. Rồi qua. Người đàn bà cắt tóc tém, ưa xem phim hành động của Mỹ và kể lại bằng một chất giọng quá nhiều háo hức và rất đổi trẻ thơ. Người đàn bà có rất nhiều sách dịch với những cái tên thật lạ. Người đàn bà múa xích xe rất thơ và thật đẹp. Cũng xích xe, ơ thờ khoác vai và nghênh ngang bước. Nét mộc mạc lặn sâu và sự dữ dội phơi tràn. Những hung hiểm và sự tinh khôi. Người đàn bà của tôi: góc khế, ban trưa, những giọt lệ chiều... Cơn mưa dầm và câu "mẹ không...ế". Người đàn bà của tôi: khoảnh sân, khu vườn, căn phòng tối, chén mắm nêm, những trái ớt hiểm xanh, cay sè... Dã Lan của tôi. Mẫu hậu của tôi: tiếng cười giòn, cách xoa tóc ngập ngừng, đôi mắt xám tro sũng nước... Dã Lan. Vậy nhé! Một chặng đời. Hãy cho tôi được giữ...
 
Nguyễn Mỹ Nữ
 
*LỜI BÌNH CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN ĐỨC THIỆN


Có bao nhiêu thân phận đàn bà được các nhà văn khắc họa trên những trang viết của mình, nhất là thân phận những người đàn bà đau khổ. Mỗi người mỗi cảnh khác nhau. Nhiều thân phận làm người đọc rơi nước mắt. Ở truyện ngắn " mẹ không...  ế" của Nguyễn Mỹ Nữ thân phận người đàn bà không làm cho người đọc rơi nước mắt mà lẫn lộn giữa nỗi xót xa, xen lẫn cảm phục. Sự xuất hiện của người đàn bà trong truyện cho ta thấy chị là người có học thức. Bằng chứng là những cuốn sách dịch nhiều hơn cả đồ dùng chị mang theo đến căn nhà chị thuê. Điều ấy còn nói lên là chị quá nghèo. Cái nghèo ấy xuất phát từ sự tan vỡ của một gia đình mà ở đó người chồng qúa nhỏ bé và ty tiện, còn người vợ lại tỏ ra cao thượng có xen chút bất cần để sau đó ra khỏi nhà với 4 đứa con và một gánh đồ sách nhiều hơn đồ dùng cần thiết. Với hoàn cảnh như vậy người đàn bà ấy phải làm tới ba việc đó là: việc thứ nhất nuôi bốn đưa con chưa giúp được mẹ việc gì, việc thứ hai; tiếp tục đi học và thứ ba công việc lớn nhất là có một ngôi nhà thực sự của mình và của những đứa con. Với một người đàn bà ngần ấy công việc thật không đơn gỉan một chút nào. Việc đi học tât nhiên không thể ra tiền được, hơn nữa công việc này lại choán hết cả thời gian chủ yếu tronng ngày. Thời gian kiếm sống còn lại là tồi và đêm. Một cai quán nhỏ xíu, với mấy cái ghế gổ , cái tủ thuốc và mấy cái ly bán cà phê thì kiếm được bao nhiêu tiền sau  một đêm thức vật vờ. Còn còn một công việc khác , công việc mà tác giả tránh mô tả sự vất vả và khốn khổ cho thân phận người đàn bà   đó là uống bia rượu với khách. Vì cuộc sống và có thể cả vì con cái mà người đàn bà phải hải chấp nhận công việc ấy. Công việc mà khi nhắc đến mọi người đều gọi với cái tên miệt thị gái bia ôm. Thật xót xa vào những ngày mưa người đàn bà rao: bia ế, quan ế, mồi ế , mẹ không ế... Tiếng rao ấy như muốn nói với các con rằng khi về nhà, dù là nhà trọ thì mẹ không ế với các con. Nhưng đó cũng là lời thú nhận: ngay ở quán chị cũng không ế, người đàn bà có 4 đứa con không ế, vẫn có khách chịu ngồi uống bia uống rượu với chị và nhờ đó chị có tiền, tiền nhiều hơn bán cà phê ngoài ga. Sự hy sinh của chị thật quá lớn lao.  Ai hiểu được nỗi đau đớn ê chề trong lòng chị, chỉ khi thật say, chị mới thể hiện nồi đau đớn của mình ở những bước nhảy trên con đường về nhà và khi sổ hết những đồng tiền mà mình kiếm được trong các cuộc say  như để thổ lộ hết nỗi ê chề của công việc mình chọn. Rồi chị cũng gầy dựng cho các con một mái nhà, rồi chị cũng học xong .chúng ta hiểu những ngày kiếm sống chị uống không biết bao nhiêu rượu bia vào người, nhưng ngày vào nhà mới chị đã không uống lây một giọt. Hãy coi đó là sự thoát hiểm của đời chị.
Riêt róng với số phận con người, Nguyễn Mỹ Nữ đã thể hiện rất rõ thái độ của mình trước những trớ trêu của cuộc đởi. Chị đã làm cho mọi người hiểu rằng: trong cõi ngưởi này, nhiều khi phải có sự đánh đổi mà có khi phải đánh đổi cả nhân phẩm của mình để tạo dựng một tương lai, không chỉ cho mình mà cho cả những người xung quanh mình, có liên quan đến mình nữa. Thâm một lần nữa Nguyễn Mỹ Nữ đã khéo léo bênh vực  người phụ nữ phải sống trong một hoàn cảnh thật éo le. Rất dễ sa đà vào lối  viết thương vay khóc mướn cho thân phận khốn khổ, Nguyễn Mỹ Nữ đã làm rõ tính cách của người đàn bà trong truyện của mình. Đó là người đàn bà  biết chịu đựng, biêt hy sinh, nhưng cũng biết nén chặt cảm xúc của mình ngay cả lúc khốn khổ nhất. đây là một truyện ngắn thành công của Nguyễn Mỹ Nữ.
NĐT


nguồn http://ngacthuy.vnweblogs.com/post/7686/140833


 


Số Lần Chấm:  
33

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 4,903
Nguồn: Diễn Đàn PRĐT
Đăng bởi: PhuDung (3/21/2009)
Người gửi: tiendoan