Truyện  

Người đánh giá sự thành công

O. Henry

NGÔ VĨNH VIỄN dịch

NGƯỜI ĐÁNH GIÁ SỰ THÀNH CÔNG
(The Assessor of Success)


Hastings Beauchamp Morley nhẩn nha đi qua công viên Union, thương hại đưa mắt liếc nhìn mấy trăm con người uể oải ngả ngốn trên các ghế dài. Họ là một đám người pha tạp – hắn nghĩ; đàn ông thì nét mặt lì xì, súc vật, râu ria không cạo, đàn bà thì uốn éo, lóng ngóng, chân hết ngoặc vào nhau lại bỏ ra, lủng lẳng cách mặt lối đi trải sỏi có đến bốn inch.

Tôi mà là ông Carnegie hay Rockefeller, tôi sẽ bỏ vài túi trong vài triệu, rồi hẹn gặp tất cả các người trông coi công viên (nếu cần, ở ngay góc phố cũng được) để thỏa thuận đặt các ghế dài, thấp ở tất cả các công viên trên thế giới để phụ nữ có thể ngồi, chân đặt được trên mặt đất. Sau đó tôi mới có thể cung cấp thư viện cho các thành phố - họ sẽ phải trả tiền – hoặc xây dựng những nhà an dưỡng cho các vị giáo sư lập dị và gọi đấy là những trường đại học, nếu tôi muốn.

Các hội bênh vực quyền lợi của phụ nữ đã đấu tranh vất vả hàng bao năm trời để đòi quyền bình đẳng với nam giới. Kết quả là thế nào? Ngồi trên ghế dài, phụ nữ vẫn cứ phải xoắn cổ chân vào với nhau, đung đưa cái gót giày kiểu Pháp cao nhất của họ một cách không thoải mái, không được mặt đất chống đỡ. Hãy bắt đầu từ dưới cùng trước, các bà ạ. Hãy đặt chân vững vàng lên mặt đất đã, rồi hãy vươn lên những lý thuyết về bình đẳng tinh thần.

Hastings Beauchamp Morley ăn mặc chải chuốt và gọn gàng. Đó là kết quả của một bản năng nhờ vào dòng dõi và giáo dục mà có. Chúng ta không có được khả năng nhìn sâu vào trong lòng một con người mà phải dừng lại ở lớp bồ cứng trên ngực áo sơ mi của anh ta, cho nên chúng ta chỉ còn cách kể lại những sự đi lại và những cuộc trò chuyện của anh ta mà thôi.

Morley không có một xu dính túi; nhưng hắn vẫn mỉm cười thương hại hàng trăm những con người nhếch nhác, bất hạnh chẳng có nhiều nhặn gì hơn hắn và cũng sẽ chẳng có gì hơn, khi những tia nắng đầu tiên của mặt trời nhuốm vàng tòa nhà cao ngất, dẹt như một con dao rọc giấy ở phía Tây công viên. Nhưng đến lúc đó thì Morley đã khá rồi. Khi mặt trời lặn, túi hắn còn rỗng tuếch, nhưng cứ mặt trời mọc thì bao giờ cũng đẫy túi.

Trước hết, hắn đến nhà một ông mục sư ở quá phố Madison và đưa ra một bức thư giới thiệu giả mạo làm như từ một giáo khu ở bang Indiana gửi đến. Hắn vớ được năm đô la với bức thư ấy, có sự hỗ trợ của một câu chuyện hoang đường có vẻ thực về một món tiền gửi qua bưu điện bị chậm trễ.

Trên vỉa hè, cách cửa nhà ông mục sư hai mươi bước, một người to béo, mặt tái nhợt, sừng sộ giơ nắm đấm đỏ rực, giọng khàn khàn như tiếng pháo chuông đòi hắn trả một món nợ cũ.

- Ơ kìa, ông bạn Bergman – Morley nói ngọt ngào như hát – anh đấy ư? Tôi vừa định đến đằng anh để thanh toán. Món tiền cô tôi gửi cho tôi qua bưu điện mãi sáng nay mới tới. Rắc rối là tại nhầm địa chỉ. Ta hãy ra đầu phố rồi tôi sẽ thanh toán nợ nần. Rất sung sướng được gặp anh. Thế là tôi đỡ phải đi.

Bốn cốc rượu đã làm Bergman nguôi giận. Morley mà đã có tiền trong túi thì hắn có cái cung cách đến nhà băng Rothschilds cũng phải đồng ý hoãn đòi nợ. Nếu hắn một xu không dính túi thì cái giọng trộ bịp của hắn hạ thấp xuống nửa “nốt”, nhưng ít có ai sành sỏi phân biệt nổi sự khác nhau đó.

- Ông M…Morley nè, ngày mai ông đến đằng… đằng tôi trả tiền cũng… cũng được, - Bergman lè nhè. – Xin lỗi…lỗi ông nhé… vì đã làm… làm phiền ông ngoài phố. Nhưng là… là vì ba tháng nay tôi không thấy ông… Nào xin… xin chúc sức khỏe ông!

Morley bỏ đi với một nụ cười nửa miệng ranh mãnh trên khuôn mặt tái xanh, nhẵn nhụi của hắn. Anh chàng người Đức khờ khạo, nát rượu làm hắn buồn cười. Rồi đây hắn sẽ phải tránh cái phố Hai mươi chín này mới được. Hắn không biết Bergman vẫn đi về nhà qua phố ấy.

Tới một ngôi nhà tối om cách đó hai khối nhà về phía Bắc, Morley gõ lên cửa theo một nhịp đặc biệt. Cánh cửa hé mở theo cỡ chiều dài của một chiếc xích sáu inch và bộ mặt đen sì, trịnh trọng, vênh váo của một gã gác cửa người châu Phi oai nghiêm hiện ra. Morley được cho vào.

Trong một căn phòng ở gác tư, giữa một bầu không khí đặc sệt khói, hắn hồi hộp theo dõi bánh xe quay số đến mười phút. Rồi hắn lần xuống dưới nhà và được anh chàng da đen quan trọng tống tiễn nhanh chóng ra cửa. Hắn vừa đi vừa lắc xủng xoảng bốn mươi đồng xu còn lại ở số vốn năm đô la của hắn. Đến đầu phố, hắn ngập ngừng chậm bước lại.

Bên kia phố là một cửa hàng bán thuốc, đèn thắp sáng trưng, từ những bình soda và cốc bằng bạc pha lê Đức tỏa ra những tia sáng rực rỡ. Một em bé lên năm đi tới, hướng về phía cửa hàng thuốc, chân cất cao với cái vẻ quan trọng của một công việc to lớn nó mới được trao cho vì lớn thêm một tuổi. Tay nó nắm một cái gì đó thật chặt, một cách không giấu giếm, kiêu hãnh, lộ liễu.

Morley giữ nó lại với một nụ cười lấy lòng và lời lẽ ngọt ngào.
- Cháu ấy à? – chú bé nói – Cháu đi đến cửa hàng mua thuốc cho mẹ cháu. Mẹ cháu đưa cho cháu một đô la để mua một lọ thuốc.
- Ái chà chà! Cháu đã là người lớn rồi đấy nên mới được mẹ sai đi mua bán như thế. Chú phải đi cùng với cháu của chú để trông xe cộ khỏi cán cháu mới được. Trên đường đi ta sẽ chén ít sôcôla chơi. Hay là cháu tôi thích kẹo chanh hơn?

Morley bắt tay đứa bé bước vào hiệu thuốc. Hắn chìa cái đơn bọc ngoài món tiền. Trên mặt hắn nở một nụ cười như của thú rình mồi, như của bậc cha chú, chính trị, thâm thúy.
- Aqua pura nửa lít – hắn bảo người bán hàng. – chloride sodium mười hạt. Dung dịch fiat. Và đừng tìm cách bóc lột tớ nhé vì tớ đã biết rõ số lượng gallon H20 ở bể chứa nước Croton rồi, còn vị kia thì tớ vẫn thường dùng để chấm khoai tây đấy.
- Mười lăm xu – người bán thuốc vừa nói vừa nháy mắt, sau khi đã pha chế xong. – Tôi thấy anh là người am hiểu dược học. Đáng lẽ giá thường vẫn là một đô la đấy.
- Đối với các “cả quỷnh” thôi!

Morley cẩn thận đặt lọ thuốc đã bọc giấy vào tay chú bé rồi đưa nó ra tận đầu phố. Hắn bỏ vào túi hắn chỗ tám mươi lăm xu mà sự hiểu biết về hóa học đã đem lại cho hắn.
- Trông chừng xe cộ đấy cháu nhé, - hắn vui vẻ nói với nạn nhân bé nhỏ của hắn.

Bỗng hai chiếc xe “buýt” từ hai phía ngược chiều nhau lao đến chỗ đứa bé. Morley nhảy bổ vào giữa hai chiếc xe túm lấy cổ chú bé đi mua hàng, giữ nó được bình yên vô sự. Rồi đứng lại ở đầu phố, hắn trỏ đường đi cho chú bé bị lừa gạt nhưng vui thích, mặt, tay nhoe nhoét thứ kẹo tồi, rẻ tiền mua ở quầy hàng của người Ý bán hoa quả.

Morley đến một quán ăn, gọi một món thăn bò và nửa lít rượu Chateau Breuille rẻ tiền. Hắn cười lặng lẽ nhưng vui thực sự đến nỗi anh hầu bàn phỏng đoán chắc hắn có tin gì thích chí.
- Ồ không, - Morley nói, tuy ít khi bắt chuyện với ai. – Không phải thế đâu. Có một chuyện khác làm tôi buồn cười. Anh có biết ba loại người dễ đánh lừa nhất trong mọi việc giao dịch không?
- Hẳn chứ - anh hầu bàn vừa trả lời vừa nhẩm tính món tiền thưởng dựa trên cái nút cà vạt thắt rất cẩn thận của Morley, - đó là những khách hàng từ các hiệu bán vải miền Nam đến vào tháng tám, và những cặp vợ chồng đi chơi tuần trăng mật ở đảo Staten về, và…
- Sai rồi, - Morley vừa nói vừa khoái trí cười khà khà, - Câu trả lời chỉ là: đàn ông, đàn bà và trẻ con. Thế giới này - ồ, ta cứ tạm gọi là New York và xa cho đến hết tầm bơi của những người ra nghỉ mát ở đảo Long Island – đầy rẫy những thằng ngốc này. Này Francois, cái món bít tết này mà để thêm trên vỉ nướng hai phút nữa thì mới đáng cho một người tử tế ăn được.
- Nếu ông cho là tồi thì để tôi…

Morley giơ tay lên phản đối, có phần nào cam chịu một chút.
- Thế này cũng được rồi, - hắn nói một cách rộng lượng, - và giờ thì cho rượu Chartreuse loại xanh, ướp lạnh, và một nửa tách cà phê ra đây.

Morley ung dung thả bước đi ra rồi dừng lại ở một góc phố, nơi hai đường phố buôn bán sầm uất của thành phố gặp nhau. Trong túi còn lại mỗi một hào, hắn đứng trên vỉa hè, đưa cặp mắt tự tin, giễu cợt, tươi cười nhìn những dòng người cuồn cuộn đi qua. Giữa các dòng người này, hắn sẽ phải quăng lưới bắt cá để nuôi sống hắn và thỏa mãn những nhu cầu của hắn. Ngay đến anh chàng Izaak Walton cũng không được phân nửa lòng tự tin và sự hiểu biết về nhử mồi của hắn.

Một bọn bốn người vui nhộn – hai nữ hai nam – kêu la mừng rỡ vồ lấy hắn. Đang có một bữa tiệc – nửa tháng nay hắn đi đâu mà không thấy mặt? – vớ được hắn thế này thật là may. Họ vây kín lấy hắn – hắn phải đi cùng với họ - tra la la… và vân vân. Một người, chiếc lông mũ màu trắng uốn cong xuống tận vai, chạm vào ống tay áo hắn, đắc thắng đưa mắt nhìn những người kia và nói: “Hãy xem tôi sai khiến anh ta như thế nào!” rồi phụ họa vào lời mời của mọi người, nàng lên giọng bà hoàng ra lệnh cho Morley.

Morley cảm động nói:
- Xin các bạn hãy hiểu cho, tôi buồn biết chừng nào phải khước từ cuộc vui này. Nhưng tám giờ tối nay, ông bạn Carruthers của tôi ở Câu lạc bộ thuyền buồm New York sẽ đem xe hơi đến đón tôi ở đây.

Chiếc lông trắng nguẩy một cái và bộ tứ ấy lại nhảy nhót như những chú lùn quanh ánh đèn điện, đi về phía cuối đường phố vui nhộn.

Morley đứng đó, lật đi lật lại đồng hào trong túi và thích thú cười một mình. Hắn khẽ lẩm bẩm:

- Cứ trơ tráo là được! Đấy là chủ bài trong ván bạc. Sao mà chúng nó dễ tin thế. Đàn ông, đàn bà, trẻ con – những chuyện giả mạo, những trò dối trá muối pha nước lã - sao mà chúng nó dễ tin thế!

Một ông già, râu rậm hoa râm, mặc một bộ áo quần lụng thụng, tay cầm một cái ô to sù nhảy từ giữa đám xe ngựa và xe “buýt” đông nghịt lên vỉa hè, bên cạnh Morley.
- Này, ông bạn không quen biết ơi – ông cụ nói – tôi xin lỗi vì làm phiền ông, nhưng ông có biết anh ở trong thành phố này tên là Solomon Smothers không? Nó là con trai tôi, tôi đã đi từ Ellenville xuống đây thăm nó. Trời đánh thánh vật tôi, không biết tôi để đâu mất địa chỉ của nó rồi.
- Cháu không biết đâu, cụ ạ - Morley vừa nói vừa lim dim cặp mắt để che giấu niềm vui ánh lên bên trong – Cụ nên đến đồn cảnh sát mà hỏi.
- Cảnh sát! Tôi chẳng việc gì phải đến hỏi đồn cảnh sát. Tôi đến đây chỉ là để thăm thằng Út thôi. Nó ở một tòa nhà năm tầng, nó viết thư bảo tôi vậy. Nếu anh biết ai tên như thế và có thể…
- Cháu đã nói với cụ là cháu không biết mà, - Morley lạnh nhạt nói – Cháu chẳng biết ai tên là Smithers cả và cháu khuyên cụ nên…
- Smothers chứ không phải Smithers, - ông cụ ngắt lời, lòng đầy hy vọng. – một người nghiện rượu nặng, tóc hung, chừng độ hai mươi chin tuổi, có hai răng cửa khểnh, cao chừng một mét…
- Ồ, Smothers! – Morley thốt lên, - Sol Smothers phải không? Ồ, anh ấy ở ngay bên cạnh nhà cháu, cháu lại cứ tưởng cụ hỏi Smithers.

Morley xem đồng hồ. Bạn cần phải có đồng hồ. Chỉ cần bỏ ra một đô la thôi. Thà nhịn đói còn hơn là thiếu một chiếc đồng hồ làm bằng kim loại đúc sung hoặc loại giá chín mươi xu, theo lời những người làm đồng hồ, cái cục kim loại ấy điều khiển các đường sắt đấy.
- Đức giám mục ở Long Island – Morley nói, - lại hẹn tám giờ đến đây gặp cháu để đi ăn ở Câu lạc bộ Kingfishers. Nhưng cháu không thể để ông cụ thân sinh ra anh bạn Sol Smothers của cháu một mình ở ngoài đường phố như thế này được. Nói có thánh Swithin chứng giám, cụ Smothers ạ, những người làm việc ở phố Wall như chúng cháu, bận lắm. Mệt không thể tả được, cụ ạ. Cháu vừa định sang bên kia góc phố uống một cốc bia gừng và một chút rượu anh đào, thì cụ đến. Cụ phải để cháu đưa cụ đến nhà anh Sol mới được, cụ Smothers ạ. Nhưng trước khi ta thuê xe, cháu mời cụ hãy cùng cháu…

Một giờ sau, Morley đã ngồi bảnh chọe ở đầu một chiếc ghế dài yên tĩnh trong công viên Madison, mồm ngậm một điếu xì gà hai mươi lăm xu và trong túi có 140 đô la bằng tiền giấy gấp rất cẩn thận. Hài lòng, khoan khoái, mỉa mai, triết lý sâu sắc, hắn ngắm nhìn mặt trăng lấp ló giữa những đám mây bay. Một ông già rách rưới, đầu ủ rũ cúi gằm, ngồi ở đầu ghế đằng kia.

Vừa lúc ấy, ông cụ cựa quậy, nhìn người bạn ngồi cùng ghế. Trong cái dáng vẻ của Morley, cụ già nhận thấy có một cái gì hơn hẳn những người vẫn thường ngủ đêm trên các ghế.
- Thưa ông – cụ già rên rỉ - xin ông làm phúc bỏ ra một hào hay vài xu cho một người…

Morley quăng ra một đô la, cắt đứt lời van xin đã thành khuôn sáo ấy.
- Cầu trời phù hộ cho ông! – ông cụ nói – Tôi đã cố đi tìm việc để…
- Việc! – Morley nhại lại với một tiếng cười vang vang. – Ông dại dột lắm, ông bạn ạ. Đời đối với ông nặng như đeo đá thật đấy, nhưng ông phải làm như Aaron cứ cầm roi mà quật nó, nó sẽ tuôn ra cho những cái quý hơn nước lã. Đời là để dùng vào cái việc ấy đấy, ông ạ. Tôi muốn cái gì, nó cũng cung cấp cho tôi.
- Trời đã phù hộ ông, - ông cụ nói. – Từ trước đến nay tôi chỉ biết có làm việc. Nhưng giờ thì tôi chẳng còn tìm được việc gì làm nữa.
- Tôi phải về thôi. – Morley nói và đứng dậy, cài khuy áo. Tôi chỉ dừng lại đây hút một điếu thuốc. Mong ông sẽ tìm được việc làm.
- Cầu trời cho lòng tốt của ông sẽ được đền đáp đêm nay - ông cụ nói.
- Ồ, ông cầu được ước thấy rồi đó. Lúc này tôi rất hài lòng. Tôi cho rằng vận may cứ bám lấy tôi như một con chó ấy. Tôi định đến cái khách sạn rực rỡ ánh đèn đằng kia, phía bên kia công viên để ngủ đêm nay. Mà đêm nay trăng chiếu trên thành phố mới đẹp làm sao. Tôi cho rằng chẳng ai biết thưởng thức ánh trăng và những cái nho nhỏ như thế bằng tôi. Thôi chúc ông ngủ ngon.

Morley ra đầu phố để qua đường đi đến khách sạn. Hắn thong thả nhả lên trời những làn khói xì gà cuồn cuộn. Một viên cảnh sát đi qua chào đáp lại cái gật đầu hiền lành của hắn. Trăng mới đẹp làm sao!

Đồng hồ điểm chin giờ thì một cô gái vừa tuổi đến thì dừng lại ở góc phố để chờ xe “buýt” đến. Cô vội vã như mới tan tầm trở về nhà hoặc bị chậm trễ chuyện gì. Mắt cô trong sáng, cô mặc đồ trắng giản dị, cô đứng ngóng xe có vẻ sốt ruột chẳng buồn trông ngang trông ngửa.

Morley biết cô. Tám năm về trước, hắn đã ngồi cùng một ghế với cô ở nhà trường. Không có tình cảm gì giữa hai người – không có gì hết, ngoài tình bạn của tuổi thơ ngây.

Nhưng hắn đã rẽ vào một phố ngang, đi đến một chỗ vắng vẻ, áp bộ mặt bỗng dưng nóng bừng của hắn vào một cột đèn sắt giá lạnh, và nghẹn ngào nói:
- Trời ơi, tôi chỉ muốn chết thôi!


Số Lần Chấm:  
13

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,802
Nguồn:
Đăng bởi: Angie (11/30/2009)
Người gửi: Lòng Như Gió