Truyện (Chưa Xếp Loại)

Những Người Muôn Năm Cũ

Nguyễn Huy Thiệp

NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ
"Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ... "
(Thơ Vũ Đình Liên)
Cách đây hơn ba mươi năm , tôi dạy học ở Bâm là một xóm núi khỉ ho cò gáy ở tỉnh N. cách xa Thủ đô vài trăm cây số . Hồi ấy , tôi hai mươi tuổi , vừa tốt nghiệp ra trường , tâm hồn còn rất ngây thơ .
Bạn đồng nghiệp cùng phòng với tôi là Doanh, giáo viên dạy Toán . Doanh lớn gấp đôi tuổi tôi , anh từng có vợ và con .
Doanh nói :
- Tôi là một giáo viên bị kỷ luật nên mới bị đày đọa lên đây . Còn cậu , nghiệp chướng gì mà cậu cũng phải rúc vào xó này ?
Tôi nói với Doanh rằng tôi tình nguyện lên miền núi dạy học , rằng đó là nhiệt tình tuổi trẻ , rằng ...
- Hiểu rồi ! - Doanh cười - Cậu đã nuốt trọn gói thuốc đắng của nền giáo dục nhà trường . Thanh niên là vậy ! Răng các cậu rất khỏe , các cậu có thể nhai vỡ cả sỏi .
Tôi hỏi Doanh xem anh bị kỷ luật gì . Doanh nói :
- Chẳng qua là chuyện "sướng con cu , mù con mắt " : Tôi không nghĩ rằng tôi sai lầm .
Tôi không hỏi gì thêm chuyện đó nhưng về sau chính Doanh đã bô bô kể lại . Đây là một chuyện cũng khá nực cười (nhìn chung , tất cả những chuyện trai gái đều nực cười) .
Trường tôi và Doanh dạy học là một trường Bổ túc văn hóa được tổ chức có phần lỏng lẻo và luộm thuộm . Hiệu trưởng là một sĩ quan quân đội chuyển ngành tên là An , tính tình nghiêm khắc và cô độc , rất thích vào rừng săn bắn . Bà vợ của ông An nấu cơm cho "hội đồng giáo viên" gồm có bốn người : ngoài tôi và Doanh còn có hai giáo viên người Thái đều có vợ con trong bản , thường mỗi tuần họ chỉ ăn cơm ở trường có ba bữa trưa là những hôm họ có những giờ dạy học buổi chiều . Học viên đến học ở trường là những người ở lâm trường và nông trường trồng chè . Họ có hơn ba chục người chia làm hai lớp . Chúng tôi phải làm sao trong hai năm trời nhồi nhét cho họ có những kiến thức cơ bản của chương trình phổ thông trung học , sau đó cấp cho họ một văn bằng tốt nghiệp .
- Tất cả nền giáo dục của chúng ta - Doanh nói - là nhằm làm sao chứng tỏ mọi sự có lý . Các chương trình hình học , các quy tắc vật lý , các bài học lịch sử ... tất cả đều nhằm mục đích khiến cho người ta tưởng bở rằng mọi người đang sống trong một thế giới có trật tự tổ chức hoàn hảo . Tất cả đều láo khoét , vô lý ! Thực ra toàn bộ thế giới được xây dựng trên sự ngẫu nhiên lộn xộn không có quy tắc nào cả . Con người vốn dĩ yếu đuối , họ tự phỉnh mình bằng những lập luận có lý để có áo tưởng tự tin hòng sống qua kiếp người gian khó trầm luân .
Bà Hinh , vợ ông An nói :
- Dào ôi , cậu Thiềm (Thiềm là tên tôi ) xin cậu bịt tai lại ! Cậu đừng nghe cái tên lang sói ấy , nó chẳng có lương tâm gì đâu ! Cậu cứ dạy tốt vào cho tôi !
Doanh bảo :
- Dạy tốt ! Cậu có nghe con mẹ mù chữ này nói gì không ? Dạy tốt cho ai cơ ? Cái lũ ngốc đến đây học , cứ tưởng thứ họ học là văn hoá , là ánh sáng , có nó thì mọi việc sẽ tốt đẹp hơn ... Họ học những thứ chẳng để làm gì . Cậu hãy hình dung bà vợ ông An đây , bà ta sẽ lương thiện và nấu ăn ngon khi còn mù chữ ... Còn nếu được học hành , tôi xin thề với cậu là đừng hòng bà ta chịu làm như thế , bà ta sẽ để mặc chúng ta chết đói .
Bà Hinh bảo :
- Không có chuyện ấy đâu nhé ! Tôi chỉ biết phục vụ chồng con và nấu cơm với chăm sóc cho các cậu thôi ! Nghề của tôi mà !
Doanh bảo :
- Thật ngu hết chỗ nói ! Con mẹ này hạnh phúc trong sự tăm tối . Bà ta lương thiện trong đêm đen .
Do thiếu giáo viên , tôi gần như phải dạy tất cả các môn . Tôi phải tự học và việc soạn các bài giảng đã chiếm khá nhiều thời giờ của tôi . Còn Doanh , anh chẳng bao giờ soạn các bài giảng của mình . Tuy nhiên , tôi để ý thấy học viên đều rất sợ anh và họ cũng thích khi anh lên lớp .
Doanh bảo :
- Tôi nói với họ rằng các anh chẳng cần đại số với hình học làm gì . Có dạy các anh cũng không hiểu nổi . Bản thân tôi , tôi cũng chẳng hiểu quái gì . Nhưng tôi luôn kể chuyện người ta đã làm ra đại số và hình học thế nào . Tôi kể về Pi-ta-go và Ơ-clit . Tất cả lũ ngốc ấy đều nghĩ rằng nếu có cơ hội thì chúng sẹ biến thành Pi-ta-go hay Ơ-clit hết .
Doanh bảo :
- Học vấn có điều nguy là khiến người ta có ảo tưởng thay đổi bản thân và hoàn cảnh là điều vốn dĩ không bao giờ làm được . Trên thực tế người ta chỉ chuyễn dịch từ một hoàn cảnh này sang một hoàn cảnh khác mà thôi ... Ở yên một nơi thì ít bi kịch đau khổ

Warning : e xplicit language
Cảnh giác : có ngôn ngữ thẳng thắn

SC

***********

Nguyễn Huy Thiệp

nhỮng ngưỜi muôn năm cũ

"Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ... "

(Thơ Vũ Đình Liên)

Cách đây hơn ba mươi năm , tôi dạy học ở Bâm là một xóm núi khỉ ho cò gáy ở tỉnh N. cách xa Thủ đô vài trăm cây số . Hồi ấy , tôi hai mươi tuổi , vừa tốt nghiệp ra trường , tâm hồn còn rất ngây thơ .

Bạn đồng nghiệp cùng phòng với tôi là Doanh, giáo viên dạy Toán . Doanh lớn gấp đôi tuổi tôi , anh từng có vợ và con .

Doanh nói :

- Tôi là một giáo viên bị kỷ luật nên mới bị đày đọa lên đây . Còn cậu , nghiệp chướng gì mà cậu cũng phải rúc vào xó này ?

Tôi nói với Doanh rằng tôi tình nguyện lên miền núi dạy học , rằng đó là nhiệt tình tuổi trẻ , rằng ...

- Hiểu rồi ! - Doanh cười - Cậu đã nuốt trọn gói thuốc đắng của nền giáo dục nhà trường . Thanh niên là vậy ! Răng các cậu rất khỏe , các cậu có thể nhai vỡ cả sỏi .

Tôi hỏi Doanh xem anh bị kỷ luật gì . Doanh nói :

- Chẳng qua là chuyện "sướng con cu , mù con mắt " : Tôi không nghĩ rằng tôi sai lầm .

Tôi không hỏi gì thêm chuyện đó nhưng về sau chính Doanh đã bô bô kể lại . Đây là một chuyện cũng khá nực cười (nhìn chung , tất cả những chuyện trai gái đều nực cười) .

Trường tôi và Doanh dạy học là một trường Bổ túc văn hóa được tổ chức có phần lỏng lẻo và luộm thuộm . Hiệu trưởng là một sĩ quan quân đội chuyển ngành tên là An , tính tình nghiêm khắc và cô độc , rất thích vào rừng săn bắn . Bà vợ của ông An nấu cơm cho "hội đồng giáo viên" gồm có bốn người : ngoài tôi và Doanh còn có hai giáo viên người Thái đều có vợ con trong bản , thường mỗi tuần họ chỉ ăn cơm ở trường có ba bữa trưa là những hôm họ có những giờ dạy học buổi chiều . Học viên đến học ở trường là những người ở lâm trường và nông trường trồng chè . Họ có hơn ba chục người chia làm hai lớp . Chúng tôi phải làm sao trong hai năm trời nhồi nhét cho họ có những kiến thức cơ bản của chương trình phổ thông trung học , sau đó cấp cho họ một văn bằng tốt nghiệp .

- Tất cả nền giáo dục của chúng ta - Doanh nói - là nhằm làm sao chứng tỏ mọi sự có lý . Các chương trình hình học , các quy tắc vật lý , các bài học lịch sử ... tất cả đều nhằm mục đích khiến cho người ta tưởng bở rằng mọi người đang sống trong một thế giới có trật tự tổ chức hoàn hảo . Tất cả đều láo khoét , vô lý ! Thực ra toàn bộ thế giới được xây dựng trên sự ngẫu nhiên lộn xộn không có quy tắc nào cả . Con người vốn dĩ yếu đuối , họ tự phỉnh mình bằng những lập luận có lý để có áo tưởng tự tin hòng sống qua kiếp người gian khó trầm luân .

Bà Hinh , vợ ông An nói :

- Dào ôi , cậu Thiềm (Thiềm là tên tôi ) xin cậu bịt tai lại ! Cậu đừng nghe cái tên lang sói ấy , nó chẳng có lương tâm gì đâu ! Cậu cứ dạy tốt vào cho tôi !

Doanh bảo :

- Dạy tốt ! Cậu có nghe con mẹ mù chữ này nói gì không ? Dạy tốt cho ai cơ ? Cái lũ ngốc đến đây học , cứ tưởng thứ họ học là văn hoá , là ánh sáng , có nó thì mọi việc sẽ tốt đẹp hơn ... Họ học những thứ chẳng để làm gì . Cậu hãy hình dung bà vợ ông An đây , bà ta sẽ lương thiện và nấu ăn ngon khi còn mù chữ ... Còn nếu được học hành , tôi xin thề với cậu là đừng hòng bà ta chịu làm như thế , bà ta sẽ để mặc chúng ta chết đói .

Bà Hinh bảo :

- Không có chuyện ấy đâu nhé ! Tôi chỉ biết phục vụ chồng con và nấu cơm với chăm sóc cho các cậu thôi ! Nghề của tôi mà !

Doanh bảo :

- Thật ngu hết chỗ nói ! Con mẹ này hạnh phúc trong sự tăm tối . Bà ta lương thiện trong đêm đen .

Do thiếu giáo viên , tôi gần như phải dạy tất cả các môn . Tôi phải tự học và việc soạn các bài giảng đã chiếm khá nhiều thời giờ của tôi . Còn Doanh , anh chẳng bao giờ soạn các bài giảng của mình . Tuy nhiên , tôi để ý thấy học viên đều rất sợ anh và họ cũng thích khi anh lên lớp .

Doanh bảo :

- Tôi nói với họ rằng các anh chẳng cần đại số với hình học làm gì . Có dạy các anh cũng không hiểu nổi . Bản thân tôi , tôi cũng chẳng hiểu quái gì . Nhưng tôi luôn kể chuyện người ta đã làm ra đại số và hình học thế nào . Tôi kể về Pi-ta-go và Ơ-clit . Tất cả lũ ngốc ấy đều nghĩ rằng nếu có cơ hội thì chúng sẹ biến thành Pi-ta-go hay Ơ-clit hết .

Doanh bảo :

- Học vấn có điều nguy là khiến người ta có ảo tưởng thay đổi bản thân và hoàn cảnh là điều vốn dĩ không bao giờ làm được . Trên thực tế người ta chỉ chuyễn dịch từ một hoàn cảnh này sang một hoàn cảnh khác mà thôi ... Ở yên một nơi thì ít bi kịch đau khổ


(còn tiếp)

DỦ HỌC DỦ NGU

--Tự Truyện Nguyễn Đức Lâ.p--

Nghe cái câu "Dủ học dủ ngu", càng học càng ngu, dễ mấy ai tin được. Càng học thì phải càng khôn ra, cũng như gừng, quế, "dũ lão dũ tân", càng gìa càng cay, mới phải cho chớ.

Hồi nhỏ, tôi học chữ Nho với thân phu.. Cha thì dậy nghiêm túc, nhưng thằng con thì học lơ là, lại thêm cái tánh rắn mắt, cắc cớ đã quen. Nên nhiều khi nó cố tình cắt nghĩa những câu chữ Nho học được theo ý của nó để cười chơị

Học tới câu "Dủ học dủ ngu", tôi đã dám ngồi xếp bằng chễm chệ, đã nói là cái tánh rắn mắc cắc cớ đã quen mà, cắt nghĩa cho thằng em tôi như vầy:

-"Dủ học dủ ngu", là "càng học càng ngu", thành ra, trò học ít thì trò ngu ít, trò học nhiều thì trò ngu nhiều, mà trò không học thì trò không ngụ
Thằng em gật đầu khoái trá, ai dè được mà cha tôi đứng ở sau lưng. Tôi bị 5 roi quắn đít và học 1 bài học nhớ đời : "chữ nghĩa thánh hiền không thể đem ra mà đùa giỡn được".

Không biết ông Mai Thảo có học 1 bài học để đời như tôi vậy chăng, nhưng ông cũng nói y như vậy, chỉ có điều ông không dùng "chữ nghĩa thánh hiền", mà ông dùng 2 chữ "văn chương". Ông nói : "Đối với văn chương phải nghiêm túc, không đùa giỡn được". Ông có thể lơ ngơ thất thiểu ngoài đường phố, đi bộ mà cũng bị cảnh sát công lộ phạt về tội vi phạm luật lưu thông. Ông có thể lè nhè nơi tiệc rượu khiến cho con nít giỡn mặt. Nhưng, khi viết, ông viết rất nghiêm túc, không bao giờ đùa giỡn với văn chương.

Bị đòn, bị học 1 bài học để đời, nhưng với tuổi trẻ háo thắng, tôi không bao giờ tin rằng "càng học càng ngu". Tin làm sao được khi con đường học vấn cứ thẳng tắp, lấy hết văn bằng này tới văn bằng kia và ra trường với 1 nghề vững chắc, trong khi mặt còn non choẹt, còn búng ra sữa, phải xin phép cha để râu mép, cho được gìa dặn thêm 1 chút (phải xin phép để râu vì cha tôi quan niệm rằng : "Cha chưa chết, con không được để râu").

Cho đến khi lăn lộn ngoài đời, tôi mới biết rằng có rất nhiều điều mà sách vở và học đường không hề dạỵ Học đường học chợ, học trên báo chí, nghe lóm những bậc trưởng thượng, thấy rằng kiến thức của mình "thiên bất đáo, địa bất chí", càng học càng thấy ngụ

Chưa cần nói tới những chuyện trời cao, đất rộng, biển thẳm, núi cao, sông dài chi cho xa, chỉ những câu ca dao, những câu hát ru em huê tình, tai vẫn nghe hoài, miệng cũng có khi hát, tưởng rằng đã hiểu cháo chan, ai dè biết ra, không hiểu 1 cái gì hết.


Hồi nhỏ, chị tôi ru em, vẫn thường hát câu :

-Chim quyên ăn trái ổi tàu
Xứng đôi mẹ gả, ham giầu mà chị


Tôi nghe câu này tới thuộc lòng mà không hề thắc mắc. Dễ quá mà, "ổi tàu" là giống ổi ở bên Tàu chứ còn cái gì nữạ Giống ổi ở bên Tầu, dĩ nhiên, phải lớn hơn, phải ngon hơn ổi bên mình, cũng như con ngựa to lớn thì gọi là ngựa Bắc Thảo, con gà, con vịt to con, được gọi là gà Tàu, vịt Tàu ...

Không hề thắc mắc như vậy, cho mãi tới hơn nửa đời người, đọc 1 bài của ông Võ Phiến, mới biết rằng "ổi tàu" ở trong câu hát không phải là giống ổi bên Tàu, mà là 1 loại cây hoang, mọc thành từng lùm từng bụi ở mấy vùng đất gò miền Trung, cây này ở miền Bắc gọi là hoa cứt lợn, còn ở cái xứ "chó ăn đá, gà ăn muối" của tôi thì gọi là bông ngũ sắc. Tôi đã từng hái trái của nó, lớn chỉ bằng hột tiêu, để ăn, đã từng hái những cái bông của nó để hút chất mật ngọt ở cuống bông, mà đâu biết tên của nó là ổi Tàụ Mẹ tôi vẫn thường hái bông ổi tàu này, chưng với đường phèn cho anh em tôi uống mỗi khi bị họ

Có 1 câu hát ru em nữa, mà tôi cũng nghe đi nghe lại hoài:

-Trách ai ăn giấy bỏ bìa
Khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xạ


Câu này thì tôi có thắc mắc, giấy thì làm sao mà ăn ? "Ăn giấy bỏ bìa" là làm sao ? Tại sao hạng người "ăn giấy bỏ bìa" khi thương lại thương vội, khi lìa lại 1 mạch lìa luôn theo kiểu "hạ thủ bất lưu tình" ?

Tôi đem những thắc mắc này hỏi nhiều người, kể cả những ông thầy dậy Việt Văn, nhưng không có ai trả lời nghe xuôi tai được.

Cho mãi tới sau khi đổi đời, "gỉa dại qua ải" (mà chút xíu nữa thành dại thiệt), về ở rẫy, tôi mới được nghe giải thích thỏa đáng câu hát nàỵ

Người dạy tôi là bà Ba Thờị Bà này, cạo đầu, ăn chay trường, tu tại gia, không ăn trầu, nhưng hút thuốc phun khói còn hơn là đầu máy xe lửạ Bà có biệt tài chữa bệnh bằng phương pháp cắt lể rất mát taỵ Nhiều người, trong đó có tôi, nhờ bà chữa trị mà lành bịnh được. Đặc biệt bà có 3 con dao để lể, 1 cái bằng vàng, 1 cái bằng bạc, 1 cái bằng đồng, cái nào cũng chỉ lớn bằng cây móc taị Tùy theo con bịnh nặng nhẹ mà bà dùng con dao nào để lể. Bà, người nẩm thấp, hơi nới về chiều ngang, mấy ngón tay mũm mĩm no tròn như nải chuối cau, nhưng cắt lể cho bịnh nhơn, bà làm coi bộ gọn gàng nhặm lẹ khéo léo lắm. Tôi khoái nhất là cái màn được bà se se mấy sợi tóc, rồi giựt nghe cóc cóc.
Đọc tới đây xin độc gỉa đừng vội lên án tôi là tuyên truyền đề cao cho những phương pháp chữa bệnh thiếu khoa học. Chuyện thiếu khoa học hay đúng theo khoa học, biết làm sao mà nói cho cùng. Tôi viết ra đây là theo những điều chính tôi đã từng trải qua, theo kiểu "thấy mà tin", chớ không hề thuyết phục ai phải tin theo mình cả.

Hồi 77, 78 trong nước bị khủng hoảng kinh tế nặng, một trăm thứ bệnh đều chữa bằng xuyên tâm liên, sống ở rẫy, nếu không có những người nhừ bà Ba Thời, bà Tám Thông, có lẽ tôi đã ấm mồ xanh cỏ từ lâụ

Bà Tám Thông cũng chuyên về giác lễ như bà Ba Thời, nhưng hành nghề chính thức. Mỗi ngày, bà quẩy gánh, đem đồ nghề ra chợ Phú Mỹ (nằm trên quốc lộ 15, đường SG-Vũng Tàu), giác lể, ăn tiền. Bà Ba Thời chỉ cắt có 1 vết nhỏ, rồi nặn ra 1 chút máụ Bà còn dùng bông gòn sạch, tẩm dầu tràm, chặm lên vết thương đàng hoàng. Còn bà Tám Thông sau khi cắt, dùng bầu thủy tinh giác hơi để hút máụ Bà nào làm ăn cũng rất bầy hầỵ Bà dùng 1 nùi gỉe rách bươm, lau máu lau vết thương cho bịnh nhơn. Không biết 1 năm bà giặt được mấy lần, nùi gỉe dơ hầy, hôi rình.

Bởi lối chữa bịnh của bà Tám Thông làm mất máu nhiều quá, trong thời buổi ăn khoai mì cầm hơi, 1 gịot máu còn quí hơn vàng và bởi cái lối làm ăn của bà thiếu vệ sinh quá, nên tôi chỉ nhờ bà ra tay có 1 lần. Độ ấy, cứ chiều chiều là tôi cảm thấy ớn lạnh, tay chân bải hoảị Bịnh kéo dài cả tháng không hết. Một người hàng xóm, là thím Sáu Liệt, nói tôi bị trúng nước, nếu không chữa trị cho sớm, để lậm vô phổi, thì chỉ có "bà cứu nị". Và thím giới thiệu tôi tới bà Tám Thông. Vừa nằm dài, đưa lưng trần cho bà cắt, giác, mà tôi nhờm gớm cái gì đâụ Tôi nhủ thầm là tự hậu, không bao giờ tới bà lần thứ 2. Quả thiệt như vậy, tôi không tới gặp bà lần nào nữa, vì chỉ 1 lần chữa trị đó, bịnh hết hẳn. Mấy chuyện như vậy , biết sao mà nói cho cùng.

Cái chuyện cắt lễ khiến cho tôi nói sang đàng, xin trở về đề tài "ăn giấy bỏ bìa".
Bữa ấy, tôi ráng lội qua nhà bà Ba Thời để nhờ bà trị cho cho cái chứng Thiên Đầu Thống, đau đầu có 1 bên. Bà lấy cây kim vàng ra lể. Nói không phải để quảng cáo cho bà, bà chữa bịnh đâu có nhận tiền thù lào, chỉ cứu nhân độ thế mà thôi, vả chăng, bà mất đã 10 năm có lẻ, cát bụi trở về với cát bụi lâu rồi, đâu cần tôi phải quảng cáo, bà cắt lể, giựt tóc nghe cóc cóc cho tôi 1 hồi, bịnh 10 phần nhẹ hết 8, 9. Bà chỉ vô cái võng treo tòng teng ở góc nhà, biểu tôi : "Thằng Tám mày nằm đó, đánh 1 giấc đi, ngủ 1 giấc, mày sẽ hết nhức đầu luôn."

Nằm trên võng, chưa ngủ được, tình cờ mà tôi học được thế nào là "ăn giấy bỏ bìa".

Ngồi trên bộ ván ngựa, bà Ba Thời trải rộng tờ giấy quyến, lớn bằng tờ nhật trình khổ lớn. Bà cẩn thận xếp đôi chiều dọc của tờ giấy, bà xếp đôi nữa, rồi lại xếp đôi nữạ Bà dùng dao rọc theo những lằn xếp. Tờ giấy, như vậy, được rọc ra thành tám mảnh, chiều dài vẫn giữ y nguyên. Tự nhiên, bà nói :

-Rọc giấy như vậy kêu bằng ăn giấỵ Miếng giấy, tao rọc làm 8 vun, kêu bằng ăn 8, nhiều người hà tiện, rọc thành 16 vun, kêu bằng ăn 16. Nhưng giấy ăn 16, điếu thuốc ngắn ngủn, kéo chưa đủ 3 hơi đã hết. Tao thà chịu tốn giấy, ăn 8, đặng vấn điếu nào đáng điếu nấy, hút mới đã.

Không chờ không đợi mà tôi còn mừng hơn là khi không bắt được vàng thoi bạc nén vì bỗng dưng, bà ngâm nga :

-Trách ai ăn giấy bỏ bìa
Khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xạ


Bà cắt nghĩa liền :

-Thằng T'am mày thấy không ? giấy quyến đâu có bìa, hổng có cái gì đáng mà phải bỏ hết. Vậy mà có những kẻ ăn giấy, bày đặt bỏ trên, bỏ dưới, bỏ tả, bỏ hữụ Những kẻ ăn giấy bỏ bìa này chánh thị là ba cái quân điệu bộ kiểu cách lỏng nhách, mà lại kiêu căng phí phạm bạc hẳn không ai bằng.

Bà ngậm ngùi ngang :

-Tao khổ gần 1 đời cũng vì ba cái quân "ăn giấy bỏ bìa" này đây ... bị, hồi đó, tao nghèo quá ...

Té ra, giấy ở đây là giấy quyến để vấn thuốc, và ăn giấy là như vậy đó, chớ giấy không lẽ bỏ vô miệng mà ăn được. Và, có nghe bà Ba Thời giải thích như vậy, tôi mới hiểu được tại sao cái kẻ "ăn giấy bỏ bìa" lại "khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa".

Khi tôi cảm ơn vì đã học được, đã được giải thích tường tận những điều thắc mắc ôm ấp từ lâu, thì bà Ba Thời cười, khoe hàm răng ám khói vàng khè.

-Tao mà dạy cái gì ? Chữ nghĩa của tao vừa đủ để ký tên. Đây là tay tao làm, miệng tao nói, cho vui vậy thôi ...

Có người sẽ trách rằng tại làm sao mà tôi lại chấp nhận lời giải thích của 1 người phụ nữ quê mùa ít học 1 cách dễ dàng như vậỵ Trách tôi thì tôi chịụ Thú thật, tôi vẫn còn đem thắc mắc về cái câu "ăn giấy bỏ bìa" ra hỏi nhiều người lắm, có người là nhà ngữ học lừng danh nữa, nhưng không có ai giải nghĩa được hết.
Có 1 lần, đọc trên 1 tờ báo, nơi mục giải đáp thắc mắc, tôi thấy có người cũng thắc mắc về cái câu "ăn giấy bỏ bìa", hỏi rằng giấy làm sao mà ăn được, người giữ mục giải đáp đã trả lời rằng câu đó sai rồi, phải sửa lại là "trách ai được giấy bỏ bìa" mới đúng.

Đọc tới đó tôi bỗng ngậm ngùi, vì phải ai cũng có cơ duyên gặp được bà Ba Thời như tôi vậy đâụ Bà bây giờ, đã ra người thiên cổ, 1 chữ cũng là thầy, huống hồ bà còn dậy cho tôi nhiều điều khác nữạ

Có lần, bà mời tôi hút thuốc, bà nói thuốc ngon lắm. Thuở đó, chuyện hút thuốc, tôi còn là trong mơ, cứ tưởng thuốc ngon là thuốc nhẹ lâng lâng, như kiểu thuốc vàng sợi ở Lạng Sơn. Nào dè, thuốc của bà, mới rít vô 1 hơi, tôi đã muốn bể phổi, ho sặc sụạ Té ra, thuốc ngon là thuốc nặng, có biết như vậy rồi , mới hiểu được tường tận ý nghĩa câu "thuốc ngon nửa điếu". Trời ơi, thuốc ngon cỡ như thuốc của bà Ba Thời, mà chỉ còn có phân nửa, quến nhựa của nửa điếu thuốc trước thì ... ngon kể gì.

Tôi có cơ duyên may mắn được gặp bà Ba Thời và có gặp được bà rồi mới biết mình còn ngu nhiều lắm.

Có nhiều câu thành ngữ, nghe người ta nói, hay đọc trong báo chí, sách vở, riết rồi quen, tôi cũng nói y theo như vậy, không cần biết trúng trật, không cần nghiệm coi nó có hợp lý hay không. Thí dụ như câu "Một kiểng hai quê". Câu này, người ta vẫn thường nói và tôi vẫn nói theo, để chỉ người đàn ông có 2 vơ..

Một dịp tình cờ, tôi nghe chị Mũ Đỏ Vũ Thị Vui nói khác, chị Vui là 1 phụ nữ, có 1 thời ngang dọc, là 1 sĩ quan nổi tiếng trong binh chủng nhảy dù. Chính chị làm quan, chứ không phải làm quan tắt. Chị bày tỏ ý kiến 1 cách nhẹ nhàng, không cần thuyết phục người nghe:

-Phải nói là "Một kiểng hai huê" mới đúng.

"Huê" là "hoa", vì kiêng tên bà Hồ Thị Hoa là vợ vua Minh Mạng, nên chữ "hoa" phải đọc là "huê", ở miền Trung, có nơi còn đọc là "ba", miền Nam thì nói là "bông".

Bữa chị Vui nói đó, có mặt cả nhà thơ Lê Giang Trần. Nhà thơ này có nghĩ gì không, tôi không biết, riêng tôi, nghe xong, tôi giật mình. Té ra, bấy lâu nay mình quen miệng nói theo người ta, trật lất mà mình không biết. 1 chậu kiểng mà trồng 2 loại hoa khác nhau, để chỉ người đàn ông 2 vợ là phải quá rồị

Từ cái câu "Một kiểng hai huê", mới hợp với câu ca dao :

"Một bồn một kiểng tuổi xanh
Một chàng, hai thiếp khổ anh nhiều bề"


Tại sao mà khổ dũ+ vậy ?

Tại vì :

"Một chàng, hai thiếp, anh xử hiếp tôi rồi,
Tối, buồng ai nấy ngủ; gạo, hai nồi nấu riêng."


Đó, như đã nói, có nhiều câu nhiều chữ, nói riết thành quen, rồi hiểu cũng theo 1 thói quen, không cần tìm tới tận gốc cái nghĩa đích thực của nó.

Hồi nãy, tôi nói tới chũ+ "ổi tàu", bây giờ, xin nói tới "thịt kho tàu".

Hồi trước, chỉ có người miền Nam mới biết món thịt kho tàụ Ăn với dưa gía trong mấy ngày tết. Bây giờ, bất kỳ là Bắc, Trung, Nam, không mấy người là không biết món thịt kho tàụ Kho làm sao, không ướp hành ướp tiều gì hết, mà vẫn thơm tho ? Kho làm sao mà miếng thịt mềm rục nhưng không nát, Kho làm sao mà không bỏ nước màu, nước thịt vẫn tươi màu nâu đỏ, trong khe ? Mấy điều này, xin hỏi mấy bà nội trợ lành nghề. Tôi chỉ biết về điều tôi học được về "thịt kho tàu".

Ăn món thịt kho này từ hồi mới mọc 3 cái răng cửa, tới hơn nửa đời người, tôi vẫn cứ đinh ninh món này là món của người Tàụ

Thịt kho tàu là món thịt kho của người Tàu, chắc nhiều người cũng nghĩ như tôi vậỵ

Nghĩ riết như vậy rồi quen, không hề thắc mắc rằng trong các tiệm ăn do chính người Tàu làm chủ và làm đầu bếp chính, kể cả các tiệm ăn bình dân, không hề có món thịt kho tàu, ghi trong thực đơn. Mà thiệt, gẫm cho cùng, bên Tàu, xứ lạnh, làm gì có cây dừa, để có nước dừa tươi đổ vô nồi thịt khọ

Mãi cho đến khi đọc 1 bài của Ông Bình Nguyên Lộc, viết cho các em thiếu nhi, mới hiểu rằng chũ+ "tàu", ở đây, theo nghĩa của người "miền dưới" là "lạt", như sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ là 2 con sông nước lơ..

Té ra, kho tàu là kho lạt lạt chứ không phải là kho theo kiểu người Tàụ
Cũng nói quen miệng mà không cần tìm hiểu là "cây lẻ bạn".

Lẻ bạn là loại cây giống như cây thơm, cây dứa, nhưng thấp hơn, nhỏ hơn, cao độ hai tấC, hai tấc rưỡi là cùng. Tàu lá lẻ bạn màu tím than, bông mục ra ở dưới gốc, giống như 2 cái vỏ sò khép lạị Khi bông nở, hai mảnh hé ra, nhụy là những hột trắng tươị

Ở miền Nam, người ta thường trồng cây lẻ bạn ở những gò mả, ngụ ý 1 sự thương tiếc ngậm ngùi, người sống cũng lẻ bạn, người chết cũng lẻ bạn.

Đó là tất cả những gì mà tôi biết, tôi hiểu về cây lẻ bạn. Tôi chưa 1 lần trồng cây lẻ bạn bên mộ của ai, nhưng tôi thích cái ý nghĩa nàỵ

Nào dè tôi biết, tôi hiểu trật lất.

Đọc sách cụ Vương Hồng Sển mới biết cây này tên của nó không phải là cây "lẻ bạn", mà là "lão Bạng", lấy từ câu "lão Bạng sanh châu" (con trai, con sò già, sanh ra ngọc). Sở dĩ cây gọi làm vậy là vì bông của nó giống như 2 vỏ sò úp lại và khi nở bày nhụy trắng tinh bên trong như những hạt minh châụ

Cụ Vương còn cho biết ở vùng núi Ngũ Hành Sơn ở Quảng Nam, cây Lão Bạng mọc làng khang.

Biết thêm 1 điều gì, đỡ ngu thêm 1 chút, nhưng trường hợp của cây Lão Bạng này, tôi nghĩ thà là không biết còn hơn. Bấy lâu, tôi vẫn thấy bụi cây màu tím đó, mọc bên cạnh 1 ngôi mộ, là 1 hình ảnh nên thơ, nói lên 1 ý nghĩa thương tiếc ngậm ngùị "Lẻ bạn" bỗng trở thành "Lão Bạng", hình ảnh nên thơ, chan chứa tình cảm đó, bỗng nhiên biến mất ...

Tôi, bây giờ, ai "đem tiêu muối vải lên đầu" rồi, mà muối đã nhiều hơn tiêu, ngồi mà tiếc lại thời gian đã qua, bỏ lỡ nhiều dịp may để mà học. Nhưng, tiếc là tiếc vậy thôi chứ làm sao níu kéo lại được thời gian.

Thế giới càng ngày càng văn minh tấn tớị Khoa học kỹ thuật tiến triển mau lẹ tới mức theo không kịp, tôi vẫn nuôi tham vọng muốn học nhiều, nhưng ngày giờ có chừng, sức người có hạn, học làm sao cho hết. Bà Ba Thời đã về với cát bụi, các ông BNL, VHS cũng không còn, nhưng các bạn trẻ tấn lên, cái kiến thức về KHKT của họ, học biết bao giờ rồi ?

Đức Khổng Tử dạy rằng : "Vi nhơn nan" (làm người thì khó). Nội cái chuyện học làm sao để sống cho ra con người, xứng đáng là 1 con người, cũng đã hụt hơị

Tôi lớn lên trong phong trào Hướng Đạo, Luật phong trào dạy : "trong sạch từ tư tưởng, lời nói tới việc làm". Cho tới ngày giờ này, điều luật vẫn làm tôi lao đao, chỉ biết cố giữ câu châm ngôn "gắng sức" của sói con, để cho ngựa đừng trở chứng đạp ràọ

Đức Phật là người đi mà không đến. Cái học của tôi cũng vậy, học thầy, học bạn, học sách, học báo, học đường, học chợ, học chỉ để mà học. "Dủ học dủ ngu".

Ngày xưa, thầy Tử Lộ hỏi Đức Khổng Tử khi nào thì chấm dứt sự học. Vị Vạn thế Sư Biểu đã trả lời rằng :

-Khi huyệt đã đào nhẵn nhụi rồi, đất đã đắp chắc chắn rồi, người đi đưa đã quay chưn lui gót rồi, lúc đó mới hết học.

Và, cái học khó nhứt vã^n là học làm sao để sống cho ra con người ...

Ông An hiệu trưởng gần như không tham gia vào chuyện của chúng tôi . Bà vợ ông nói :

- Dào ôi ... cái lão ấy nào có biết gì ... Nghề của lão ấy là bắn súng , bây giờ chuyển ngành rồi thì đi săn chim bắt thú ... cũng may là lão ấy không bao giờ bắn trúng được một con gì ...

Tuy nhiên có một lần ông An bắn chết được một con khỉ nặng chừng tám cân , ông bắn được vì nó đã què sẵn . Bà Hinh xót xa :

- Trời ơi ... Nó hệt như đứa bé con hai tuổi . Đồ bất nhân ! Sao lại đi bắn nó kia chứ ... Trông hai cái mắt của nó đang mở thô lố ra kìa !

Bà Hinh nhất định không cho làm thịt mà phải mang chôn con khỉ . Ông An không biết phải làm thế nào .

- Phải làm thế nào ? - Doanh bảo - chúng ta mang nó vào rừng . Tôi sẽ cử hai đứa học trò nghỉ học nấu nướng cho chúng ta ăn .

Bà Hinh bảo chồng :

- Nếu ông ăn thịt nó thì ông cút ngay đi ! Ăn thịt nó có khác gì ăn thịt người . Chỉ có loài cầm thú mới ăn như thế ...

Doanh bảo :

- Các bậc vua chúa như Tề Hoàn Công hay Tấn Văn Công ngày xưa cũng ăn thịt người ... Chẳng hề gì ! Còn ông An , ông không ăn thì cũng chẳng đáng là người đi săn , cũng chẳng đáng là thủ trưởng nữa ...

Món thịt khỉ được nấu như món thịt chó nhựa mận . Thịt khỉ rất ngọt nhưng vị khá tanh . Chúng tôi phải ăn bốc trong rừng vì bà Hinh nhất định không cho mượn bát đũa ... Ông An uống rượu , trở nên vui vẻ , kể chuyện bắn con khỉ như bắn một tên thổ phỉ :



- Nó rất cáo già - Ông An nhắc đi nhắc lại - Nó là khỉ nhưng rất cáo già !

Doanh bảo :

- Thế thì gọi nó là đồ khỉ cáo già !

Ông An cười ngất gật đầu . Nụ cười của người say rượu thật sảng khoái vô tư !

Thường dịp mưa xuân , bà Hinh hay bắt chúng tôi đi đào măng về để trữ thức ăn . Măng tươi luộc lên trắng ngần , nấu thành món canh với nước luộc gà , cho vào một ít hành hoa , mỡ gà nổi lên nhấp nhánh như những ngôi sao nhõ nhiều cánh màu vàng chanh . Bà Hinh còn tích măng khô để dịp nghỉ phép cho bọn chúng tôi mang về làm quà .

Doanh bảo :

- Cái thứ quà măng khô với mấy cái lông nhím, lông gà rừng nó gây ảo tưởnng cho gia đình tôi tưởng rằng tôi đang sống ở trong xứ sở thần tiên chứ không phải ở trong địa ngục .

Bà Hinh bảo:

- Nếu thế thì cậu đừng mang về nữa .

Tuy nói thế nhưng khi Doanh về phép bà Hinh vẫn cho măng và Doanh cũng vẫn nhận .

- Chúng tôi phải luôn luôn đầu hàng hoàn cảnh và phong tục - Doanh bảo - Như thế để chứng tỏ ta có giáo dục , có văn hoá , có tâm . Khốn nạn thật ! Sao mà tôi ước ao có được sức mạnh của con đười ươi sống đơn độc trong hang núi kia !

Trên hang núi gần trường có một con đười ươi đực , nặng phải tới gần một trăm kg . Những hôm nắang , nó ra ngoài cửa hang phơi nắng . Chiều tối đến , nó hú lên những tiếng hú âm thầm man rợ y hệt như tiếng người . Chúng tôi đã nhiều lần trông thấy nó đứng trên mỏm núi nhìn xuống sân trường và làm những cử chỉ rất tục tĩu .

- Đấy là một cách nó bình luận về những việc làm của chúng ta - Doanh bảo - Tôi thấy nó có lý .

Ông An bực mình :

- Cậu Doanh ! Sao cậu lại nói thế ? Người ta vẫn nhốt vào tù những thằng nói nhăng như cậu .

Doanh bảo :

- Thì chúng ta vẫn sống cùng nhau đấy thôi !

Ông An bảo tôi :

- Cậu Thiềm ! Cậu phải biết cách tự bảo vệ mình . Còn thằng Doanh , tôi thấy nó nham hiểm thế nào ... Cái câu " chúng ta vẫn sống cùng nhau " là có ý gì ?

Bà Hinh bảo :

- Còn ý gì nữa ! Tức là nó bảo chúng ta cũng đang ở tù , thế là " sống cùng nhau " chứ gì ?


Vợ chồng ông An có cô con gái tên là Xuân đang học Đại học ở tận dưới xuôi , mùa hè thường ghé về nhà . Khi cô về , không khí ở chỗ chúng tôi như thay đổi hẳn . Khi cô đi , tất cả trở nên thẫn thờ , sự hiu quạnh buồn tẻ trước đây không ai nhận thấy bây giờ bỗng nhiên biểu hiện ra rõ rành quá, cay đắng quá !

- Cái ghế này con bé Xuân nhà tôi hôm trước vẫn ngồi - Bà Hinh nói với chúng tôi - Xin các cậu đừng để giây nhọ nồi vào đấy ! Cậu Thiềm , cậu có thấy mỗi lần con bé về nó lại xinh hơn ra không ?

Doanh bảo :

- Nó càng ngày càng có vẻ khiêu dâm hơn thì có ! Đấy là kết quả của việc tiếp thu văn minh đô thị . Bà mẹ tội nghiệp ạ , bà đang mất dần con gái bà đấy ! Học vấn và tiện nghi sẽ làm móng vuốt của nó sắc nhọn ra , nước bọt của nó biến thành thuốc độc , tâm hồn của nó giăng như lưới nhện ... Tôi thích cái bàn tay hái chè của nó ngày xưa , móng tay trụi thùi lụi , các ngón tay mòn đi chỉ bằng một phần ba ngón tay người thường , dưới lớp da " trần bì " khá dày của nó rất nhiều lương tâm với lòng chẳng nỡ , còn bây giờ không cẩn thận là toàn vi trùng ...

Bà Hinh tức điên lên :

- Đồ đểu ! Tại sao miệng lưỡi mày độc ác như thế hả Doanh ?

Doanh bảo :

- Thôi thôi ! Tôi không nói nữa . Chân lý bao giờ cũng trắng trợn nên rất khó nghe ... Ừ thì con bà xinh , ừ thi con bà đẹp ...

Bà Hinh bảo :

- Chứ không à ? Cứ trông dáng đi của nó xem có kiêu sa không nào ... Nó học ở thành phố là tốn kém lắm , tôi cho nó bao nhiêu tiền tôi cũng chẳng tiếc ...

Bà Hinh nhớ con đến ngơ ngẩn người , như mất cả hồn , không để ý nên bữa ấy nấu cơm sống . Ông An bỏ cơm , xách súng vào rừng đi săn .

Bà Hinh bảo tôi :

- Cậu Thiềm ! Cậu có thấy con bé nhà tôi thông minh không ?

Doanh bảo :

- Đàn bà mà thông minh sẽ khó lấy chồng , mà lấy chồng thì khó hạnh phúc ...

Bà Hinh bảo :

- Chỉ mong nó được yên ổn ...

Doanh bảo :

- Đấy đấy ! Cái đấy mới cần ! Yên ổn thì chẳng cần thông minh làm gì ... Thế lần này nó đi , ông bà cho nó được bao nhiêu tiền ?

Bà Hinh bảo :

- Có bao nhiêu tiền đưa cho nó hết nhưng chị chàng vó vẻ không được bằng lòng ... Bố mẹ nghèo thì con cái cũng bị thiệt thòi có phải không nào ?

Doanh bảo riêng tôi :

- Tội nghiệp bà mẹ thực thà ! Cậu có để ý đôi mắt trắng dã của con bé ấy không ? Cô công chúa Lọ Lem này là người quyết liệt lắm đây ! Cứ chờ đấy rồi nó báo hiếu !

Cuộc sống ở xóm núi hẻo lánh trôi đi đơn điệu , buồn tẻ . Khi chiều về , tiếng mỏ trâu lốc cốc khua vang ở dưới chân núi xa xôi , lẫn lộn với khói lam chiều , rồi chìm lịm đi ở cuối vực sâu cùng với bóng tối lúc đầu còn rón rén ở những bụi cây lúp xúp với màu tím nhạt , rồi lảng vảng chuyển sang màu xám tro viền trên các ngọn cây cao , rồi cuối cùng phũ phàng đen kịt trùm lên toàn bộ núi rừng . Tiếng chim xao xác gọi đàn . Con đười ươi lại hú lên thê thảm , cứ ba tiếng một , ba tiếng một cho đến lúc chẳng có tiếng nào .

Tôi và Doanh ngồi ăn cơm âm thầm trong bóng tối . Cả hai chả nói năng gì . Bà Hinh ngồi bên bếp lửa khe khẽ hát bài hát ru con :

" À ơi ... cầu tre lắt lẻo khó đi ...
Ví dầu ...
Mẹ đưa con đi trường học ... Ầu ơ ...
Mẹ đi trường đời ... "


Doanh nói :

- Này Thiềm ! Cậu thử nghĩ câu " mẹ đi trường đời " nó có vẻ khuất tất tái tê thế nào đấy không ? Cái " trường đời " của người đàn bà nó ỡm ờ mù mịt vô cùng ... Bà mẹ trẻ hát ru ở đây có vẻ học nhiều ở nơi chợ búa , bến xe , nhà hàng ... ở giảng đường này , các bậc giáo sư dạy dỗ cho bà mẹ trẻ những chân lý gì không biết ?

Cơm xong , tôi và Doanh lầm lũi đi về phòng nghỉ . Căn phòng rộng mười hai mét vuông , cửa ở giữa , hai bên kê hai cái giường nhỏ , đầu giường mỗi người có một cái tủ đựng sách vở , quần áo . Những hôm rét quá , giữa nhà chúng tôi đốt một đống lửa , ấm thì ấm thật nhưng khói không sao ngủ được , thế là đến nửa đêm lại phải thức dậy để rút củi đi . Khoảng tháng Mười một là mùa sương muối , khí hậu ban ngày khô hanh rất khó chịu nhưng ban đêm buốt giá vô cùng . Sáng ngủ dậy , sương muối đọng li ti trắng xoá ở trên mặt cỏ xác xơ . Sương muối làm chết nhiều cây , đến ngay cả những cây chuối xum xuê cũng khô hết lá . Những thứ rau trồng trong vườn cũng chết lụi cả , chỉ trừ có loại rau cải Mèo là thứ rau đặc biệt của người H'Mông trồng là còn sống sót nhưng phải tưới nước liên tục và phải che chắn suốt cả đêm ngày . Nhiều đêm , chúng tôi bỗng choàng tỉnh dậy vì nghe tiếng nổ lép bép râm ran như trời đang sụp . Chạy bổ ra ngoài , nhìn lên lưng núi thấy một vệt lửa chạy dài đang cháy rừng rực . Ánh lửa trên núi hắt xuống khuôn mặt của mấy giáo viên chúng tôi , trông ai cũng thấy hốc hác đăm chiêu . Không nói ra , chúng tôi đều biết khi đã cháy rừng ở đây nghĩa là vô phương cứu chữa . Sợ nhất khi những tàn lửa trên rừng gặp gió bốc cao rơi xuống trường học . Như thế nghĩa là mất hết , ngày mai sẽ chẳng còn gì ! Tất cả sẽ trần thùi lụi .

Mùa mưa trong năm thường vào hai dịp . " Mưa chiêm " là khoảng tháng Tư khi trời bắt đầu vào hạ . Mây đen kéo đến từ cuối chân trời , sấm sét rền vang đến suốt mấy tiếng đồng hồ , gió thổi cuồn cuộn biến thành những cơn lốc , cuốn đầy bụi rác . Thế là mưa ! Mưa rào ào ào trút xuống , thoắt cái vừa đến rồi lại đi ngay ! Rồi nắng lên , rồi nắng chói chang , rồi nắng cứ liên miên đến vài ba tháng . Những con lợn thả rông uể oải đi tìm chổ râm mát nằm thở phì phò . Sang tháng Bảy , tháng Tám mới là " mưa mùa " , mới vào mùa mưa chính thức . Vừa như giập như vùi , dai dẳng , mưa như điên như cuồng , như tra tấn . Nước lũ đổ về cuồn cuộn , cuốn trôi đất cát , trôi cả nhà cửa . Những con rắn , con trăn đi tìm chỗ tránh mưa , nhiều khi rúc cả vào chăn màn , vào tủ đựng quần áo . Mùa mưa kéo dài đến khoảng tháng Chín . Rồi mãi sang Xuân mới lại có mưa ...

Có một năm cũng vào mùa mưa thì xảy ra một chuyện thế này : Hôm ấy khoảng năm giờ chiều , anh Thanh là một trong hai giáo viên người Thái hớt hải chạy đến , người ướt như chuột lột . Anh Thanh nhờ chúng tôi giúp anh đưa người vợ đang đau đẻ đến ngay bệnh viện .

Chúng tôi hỏi ra mới biết dân ở đây có tục vẫn để cho người phụ nữ đẻ một mình . Sắp đến ngày đẻ , người ta dựng một cái lán nhỏ ở một góc vườn hay ở trong rừng rồi để người phụ nữ chui vào đấy , tự mình làm lấy mọi việc . Phụ nữ vẫn thường đẻ đứng chứ không đẻ nằm , người nào sức yếu có khi băng huyết dẫn đến chết người .

Chúng tôi nghe nói mà rùng cả mình , lạnh toát cả người . Bệnh viện cách chỗ chúng tôi tới hơn bốn mươi cây số . Vợ anh Thanh vào lán đẻ đã hơn năm tiếng đồng hồ . Chúng tôi bàn nhau sẽ đưa chị đến lâm trường gần đó nhờ họ giúp đỡ .

Khi chúng tôi tới nơi thì mưa rất to . Nước lênh láng xung quanh cái lán đỏ ngầu . Chị vợ anh Thanh đã lịm đi bất tỉnh . Chúng tôi khênh chị đi nhưng những người nhà anh Thanh giữ lại không nghe . Ông An vác súng ra chĩa vào họ , ông bắn nhưng như thường lệ đạn vọt lên trời ... Ấy thế mà chị vợ anh Thanh cũng sống , sinh con ra " mẹ tròn con vuông " ... Thằnng bé về sau đã được đặt tên là May để kỷ niệm lần sinh nở man rợ đó .

- Trong hoàn cảnh tự nhiên - Doanh nói - mọi sự vẫn được tự nhiên chọn lọc kỹ càng , sức đề kháng trong tự nhiên rất lớn . Sống trong tăm tối và hiểm nguy , chúng ta vẫn sống như vậy nhưng có người ý thức được , có người không ý thức được mà thôi . Nhưng kiểu gì kết cục vẫn như nhau cả : tức là cái chết sẽ đến sớm hay muộn với mỗi một người . Vẫn là cái chết trắng trợn , phũ phàng không ai tránh được !

(còn tiếp)


Số Lần Chấm:  
10

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 4,453
Nguồn: không rỏ
Đăng bởi: Thành Viên ()
Người gửi: SC
Người sửa: CaNgo 4/8/2002 9:04:40 AM